*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2012/11/04

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 22

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ
Bài số 22
HỒ TẤN VINH
       MỘT NGẢ ĐI VỀ
Dầu sao, bọn bất lương cũng đã thắng trận, nhưng cái nội lực dùng để thắng trận bây giờ đã biến thái. Trước đây, nội lực của CS dựa vào ba yếu tố đó là tuyên truyền xảo quyệt, hình ảnh xấu xa của chánh quyền Cộng Hòa và khủng bố, ép buộc. Sau 1975, CS đã lộ mặt thật rồi thì còn tuyên truyền gạt gẫm ai được nữa. Hình ảnh xấu của chánh quyền Cộng Hòa đã mất đi theo chế độ Cộng Hòa, nhưng người lính Cộng Hòa nhờ đó mà sáng giá. CS càng ác ôn thì người dân càng yêu mến người kính Cộng Hòa.
Rốt cuộc, để cai trị, CS chỉ còn có thể dựa vào yếu tố cưởng ép mà thôi. Đó là việc sử dụng võ lực của công an và quân đội để kềm kẹp nhân dân. Sự kềm kẹp không thể kéo dài mãi. Chính người cộng sản cũng đã biết chủ nghĩa sai, họ đang đi sai đường rồi. Chỉ có một vấn đề duy nhứt là làm sao quây lại cho êm.
Trong giai đoạn này, đó sẽ là công lao lớn nhứt đối với dân tộc và chỉ có người cộng sản hồi tâm mới làm được. Trong thế gian này, đường đi trăm lối, đâu là lối đi về?
Nhưng bây giờ dầu muốn dầu không, trong lúc chờ đợi, người dân vẫn phải sống. Làm sao cải thiện cuộc sống trong chế độ CS? Cho tới nay, tôi thấy xuất hiện hai xu hướng đấu tranh.
1.- Dân chủ hóa quốc hội
Có nhiều người nghĩ rằng dân chủ hóa quốc hội có thể giải quyết vấn đề. Dân chủ hóa quốc hội gồm có hai phần.
Phần thứ nhứt là mọi người được tự do ứng cử, không phải thông qua sự giới thiệu hay sự đồng ý của Mặt Trận Tổ Quốc và rộng rãi hơn, mời các Việt kiều về tham gia ứng cử để giúp nước. Và phần thứ hai là vận động công bằng, đếm phiếu ngay thẳng. Có quan sát viên quốc tế càng tốt.
Mời quí vị nghe Nguyễn Thanh Giang kể những rắc rối mà ông đã trải qua để tìm cách ứng cử vào quốc hội.
 'Xin nêu một ví dụ bản thân được chiêm nghiệm: Năm 1992, với tâm trạng mong muốn đưa tiếng nói của ngành địa chất vào Quốc hội, thấy tôi là một trí thức ngoài Đảng hiếm hoi thường có chính luận đăng trang nhất báo Nhân Dân, anh em trong cơ quan xúi tôi ứng cử Quốc hội khóa IX.
Tại Hội nghị Cử tri Địa phương, tôi được 96% phiếu bầu. Năm ấy, trong khu vực dân cư tôi ở, có 4 ứng cử viên Quốc hội. Bà Phạm Thị Trân Châu – giáo sư tiến sỹ của trường Đại học Tổng hợp Hànội được 100% phiếu; ông Nguyễn Duy Quý - ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội được 82%, bà Trần Thị Thanh Thanh - ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Thiếu niên Nhi đồng được 71%.
Trước 'nguy cơ' trúng cử Quốc hội rất cao của tôi, rầm rập những cán bộ Mặt trận Tổ quốc, công an . . . xuống cơ quan tôi chỉ đạo quyết liệt.
Lẽ ra phải thông báo công khai cho anh em trong cơ quan đến dự Hội nghị Cử tri Cơ quan và bỏ phiếu tín nhiệm, nhưng họ đã được lệnh dẫm lên Luật Bầu Cử. Họ chỉ triệu tập đúng 16 người trong số hơn 400 người trong cơ quan (16 người này hầu hết là đảng viên và đều là cán bộ các tổ chức, phòng, ban và nói chung đều đã được dặn dò trước) đến bỏ phiếu. Thế là họ lấy lý do tại Hội nghị Cử tri cơ quan, tôi chỉ được 30% phiếu tín nhiệm nên nhẹ nhàng gạt tôi khỏi danh sách ứng cử viên Quốc hội (Tr. 54)
Đó là chỉ mới nộp đơn ứng cử thôi mà đã khó rồi thì phải qua mấy truông nữa mới có hy vọng trúng cử?
Thông thường, chúng ta đều hiểu ở các nước dân chủ, dân là chủ. Dân cử các đại diện cho mình để đi họp.  Vì vậy, các quốc hội ở các nước Tây phương là nơi tập trung quyền lực tối cao của nhà nước dân chủ. Trong chi tiết, quyền lực của quốc hội Pháp có thể khác quyền lực của quốc hội Mỹ hay Úc. Nhưng tựu chung, ta có thể biết rằng bình thường quốc hội biểu quyết ngân sách, thuế khoá cho hành pháp thi hành, biểu quyết luật lệ cho tư pháp thi hành, chất vấn chánh phủ và có khi lật chánh phủ luôn.
Quốc hội của người ta mạnh như vậy. Quốc hội ở Hà nội với Đảng CS, ai mạnh hơn ai? Ai là mẹ, ai là con? Đứa con thèm ăn cà rem, phải xin ai đây?
Nguyễn Thanh Giang lại kể một câu chuyện khác:
Điều 1 trong Luật Tổ chức Quốc hội công bố ngày 18 tháng 2 năm 1992 có ghi: 'Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước'
Kiểm điểm lại, thấy có vẻ như Quốc hội khóa IX chưa quan tâm đúng mức tới việc thực hiện chức năng này. Trong một số kỳ họp có những đại biểu đã chất vấn thẳng thừng phía chính phủ. Tuy nhiên, nhiều vị bộ trưởng, nhiều quan chức nhà nước chỉ trả lời quấy quá, thậm chí có thái độ khinh thị mà quốc hội vẫn đành bỏ qua. (tr. 95)
Chuyện đã có xẩy ra thật như vậy. Quốc hội chất vấn bộ trưởng nhưng bộ trưởng khinh thị quốc hội. Quốc hội làm gì đây? Đi mua cà rem cho con nít ăn à?
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ơi, tại sao ông lại phải chịu khổ cực và mất thì giờ để tìm cách vào quốc hội Hà Nội? Bây giờ  thí dụ không cần tranh đấu nữa mà hai điều kiện của một cuộc bầu cử dân chủ đã được cho không. Kết quả là ông TS Nguyễn Thanh Giang và cả trăm người Việt từ bên Mỹ trúng cử. Các ông vào quốc hội, ngồi chiếm hơn phân nữa số ghế, rồi các ông làm gì nữa đây?
2. – Đa đảng
Có người nghĩ rằng đa đảng là giải pháp. Đảng đây là đảng chánh trị thật sự chớ không phải là đảng cụi. Các đảng này phải tranh đấu cho được nhiều ghế trong quốc hội thì mới được mời gởi đại diện tham gia chánh phủ đoàn kết.
Để lấy một thí dụ cho dễ hiểu. Giáo Sư Vũ Quốc Thúc, lảnh tụ một đảng trí thức Hải Ngoại, được mời làm Bộ Trưởng bộ giáo dục.
Có hai trường hợp xẩy ra.
Một là trong đầu ông không có gì cả và ông nhận chức vụ cho có danh mà thôi. Như vậy đảng hoan nghênh ông vô cùng vì sự có mặt của ông trong nội các đánh bóng tánh cách dân chủ của chế độ.
Trường hợp thứ hai là ông có kế hoạch hẳn hòi và ông tin tưởng mãnh liệt rằng nếu đem kế hoạch này ra thi hành thì sẽ có ích nước lợi dân. Đó là động cơ duy nhứt khiến ông tham gia chánh phủ.
Ông đọc cho thư ký đánh máy bản kế hoạch. Nếu người thư ký ngó ông cười trừ mà không đánh chữ nào hết thì ông làm sao? Ông bước ra ngoài bảo tài xế chở ông xuống trường học để quan sát, nếu người tài xế không chịu rồ xe thì ông làm sao?
Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Quyền thưởng phạt, quyền chọn người và quyền đuổi người là quyền của cấp chỉ huy. Nhưng Giáo Sư Thúc không có những quyền đó. Đó là quyền của đảng. Người thư ký đánh máy, người tài xế lái xe chỉ làm theo lệnh của người có quyền thưởng phạt. Lệnh đó có khi là lệnh bắn vào đầu ông một viên. Cho nên rốt cuộc rồi, dầu đầu ông có sạn hay không, ông vẫn không làm gì được. Chỉ có thể làm cái bình bông.
Phạm Văn Đồng đã từng than rằng mặc dầu ông làm Thủ tướng nhưng ông cũng bất lực, vậy huống gì người ngoài đảng:
'Tôi là Thủ tướng lâu nhất thế giới, cũng là thủ tướng khổ nhất thế giới. Làm thủ tướng thật, tôi chẳng có quyền gì hết. Bộ trưởng hay thứ trưởng có phải do tôi chọn đâu, họ làm không tốt thì không phải lỗi ở tôi' Vũ Thư Hiên, tr. 294.
3. – Phi chánh trị lực lượng công an, quân đội và công chức
Có người đòi hỏi bỏ điều 4 Hiến pháp là điều dành độc quyền cai trị của đảng CS. Nếu bỏ điều này là chấp thuận đa đảng. Như tôi đã trình bày ở trên, chỉ có đa đảng không thôi thì chỉ có hình thức chớ không giải quyết bản chất của vấn đề.
Nước Việt Nam cùng cả trăm nước khác tham dự một cuộc đua quốc tế để giành hợp đồng, giành vốn đầu tư, giành thương ước, giành thị trường, giành chất xám . . . trong cuộc đua này Việt Nam lại phải mang một cục đá Xã Hội Chủ Nghĩa quá nặng nề nên chắc chắn phải thua. Nhưng cuộc đua này có dính dáng đến hằng triệu người trong nước có công ăn việc làm hay không chớ cai trị đâu chỉ là xuất khẩu lao động mà thôi.
Người có trách nhiệm với tương lai của đất nước phải sớm hiểu rằng cục đá Xã Hội Chủ Nghĩa làm trì trệ bước tiến của dân tộc. Lấy cục đá đó ra là cách duy nhứt để tranh đua với thiên hạ.
Làm sao để lấy cục đá đó ra?
Có nhiều cách, nhưng tìm tòi chi cho mất công. Cứ theo cách làm của các nước Tây phương. Về chánh trị thì các đảng kể cả đảng CS phải được tự do sinh hoạt. Nhưng:
Quân đội là để bảo vệ lãnh thổ
Công an là để đi bắt ăn cướp
Cảnh sát là để giữ trật tự
Các lực lượng cảnh sát, công an, quân đội và công chức là của chung, không được thuộc một đảng nào. Các đảng đoàn không được sinh hoạt trong các cơ sở nhà nước. Quân đội không có chánh trị viên.
Nếu cứ tiếp tục bày vẽ những hình thức dân chủ mà lòng thành không có thì sẽ không gạt được ai đâu. Phải thật sự bải bỏ dụng cụ kềm kẹp mới là thành khẩn.
Nếu thật sự có lòng thì đây là lối đi về.

Hồ Tấn Vinh
Melbourne
Khởi viết tháng 6, 2007
Bây giờ là ngày 4 tháng 11 năm 2012

THAM KHẢO:

  • KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY. Nguyễn Tiến Hưng, Hứa Chấn Minh XB, 2005.
  • HỒ CHÍ MINH, NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG. Hồ Sĩ Khuê, Văn Nghệ XB, 1993.
  • KỲ LỤC TỈNH. Hứa Hoành, Văn Hóa XB, 1993.
  • TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH. Trần Kim Trúc, Đồng Nai XB, 1972.
  • NHỮNG BÍ ẨN LỊCH SỬ DƯỚI CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM. Lê Trọng Văn, XB 1989.
  • CÔNG VÀ TỘI. Nguyễn Trân, Xuân Thu XB, 1992.
  • ĐẢNG CẦN LAO. Chu Bằng Lĩnh, Mẹ Việt Nam XB, 1993.
  • ĐẠI-VIỆT QUỐC-DÂN-ĐẢNG 1938-1995. Quang Minh, Văn Nghệ XB.
  • NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM. Nguyễn Thanh Giang, Chính Luận XB, 2007, Sydney.
  • ĐÊM GIỮA BAN NGÀY. Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ XB, 1997.
  • VIỆT NAM MỘT TRỜI TÂM SỰ. Nguyễn Chánh Thi, Anh Thư XB, 1987.
  • VIỆT NAM NIÊN BIỂU tập b. Chính Đạo, Văn Hóa XB, 1997.
  • 1945-1964 HAI MƯƠI NĂM QUA. Đoàn Thêm, năm Ất tỵ, Saigon.
  • DÂN TỘC SINH TỒN. Số 15 năm 2007.
  • PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRONG DÒNG LỊCH SỬ DÂN TỘC. Nguyễn Long Thành Nam - Đuốc Từ Bi XB 2006, online.
  • 25 NĂM KHÓI LỬA. Lý Tòng Bá- XB 1995.
  • VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI. Đỗ Mậu. Hoa Kỳ XB, 1988.

TB:
Tôi chân thành cảm tạ độc giả đã theo dõi 22 bài viết trong hơn một tháng qua. Tôi biết rằng có nhiều vị có ý kiến khác nhau hoặc về sử liệu hoặc về quan điểm.

Trong tinh thần dân chủ và ước muốn có sự trao đổi ngay thẳng, tôi đã nhận được một số ý kiến và tôi sẽ chờ ba ngày để đón nhận thêm các ý kiến chung kết của độc giả.

Tôi sẽ phổ biến tất cả ý kiến của quí vị vào ngày thứ Năm 8 tháng 11, năm 2012.

Xin đa tạ
HỒ TẤN VINH 

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

CÁCH XƯNG HÔ TRONG PHẬT GIÁO


Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:
 
1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy hay Sư phụ, người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy?  Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng "con" được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là "con" với vị xuất gia?
5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?
 
Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, cần thông qua các điểm sau đây:
 
*1)  Chư Tổ có dạy: "Phật pháp tại thế gian".  Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời.  Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời.  Chư Tổ cũng có dạy: "Hằng thuận chúng sanh".  Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
 
*2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp:
Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh.  Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi.  Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy.  Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
 
*3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo.  Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra.  Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp).  Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời.  Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.
* * *
Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ.  Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là "khu ô sa di" (sa di đuổi quạ).
Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ).  Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. 
 
Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có.  Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni.  Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.  Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch, không nên lạm dụng từ vãng sanh), không phải thụ giới nào cao hơn.  Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông. Nam tông không có giới này. 
 
Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền, phát triển) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.
 
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng theo hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo như sau:
1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni bộ):
4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).
 
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp Đại Lễ hay Đại Hội Phật Giáo, trong các Giới Đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.
 
Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ.  Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ.  Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ.  Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: "Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni", chính là nghĩa đó vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni.  Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai. Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở Giáo Hội Phật Giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại Tùng Lâm, Phật Học Viện, Tu Viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các Giáo Hội Phật Giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).
Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
 
1)*        Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách).  Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư). Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, thân hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
 
2)*  Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy.  Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam Bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni, xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.
 
3)*  Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là "Quí Phật Tử". Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật Tử, chứ không riêng tại gia là Phật Tử mà thôi.  Việc một Phật Tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật Tử tại gia nhiều tuổi bằng "con" thực là không thích đáng, không nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
 
4)*  Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật Tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp.  Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di  (Tín nữ, Cận sự nữ).
 
5)*  Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng "con" trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm "con" của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng "con" trong giáo pháp của đức Phật.
 
6)*  Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, từng đảm nhận trọng trách, hay nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.
 
7)*  Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư Ông, Sư Cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp Sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
 
8)*  Danh xưng Sư Tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ Sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo. Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.
 
9)*  Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh.  Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức.  Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức. 
 
10)*  Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Bồ tát Thường bất khinh, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh.  Cho nên đơn giản nhất là: "xưng con gọi Thầy".
 
Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.
 
Tóm lại, ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng.
 
Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ, nếu có, trong nhà đạo.  Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.  Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia cũng như xuất gia.  Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm, chính là nghĩa như vậy.
 
Cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt, thế thôi!  Đó là phần tu tâm.
 
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng  tu tâm dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải thoát, đối với Phật Tử tại gia cũng như xuất gia. 
 
Đó chính là một phần ý nghĩa của "tùy duyên bất biến" trong đạo Phật vậy._((*))_
 
Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

2012/11/03

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 21

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ
Bài số 21
HỒ TẤN VINH

II. – SAU 1975, VIỆT CỘNG CHO VNCH CHÁNH NGHĨA
Nếu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có hòa hợp hòa giải thật sự?
Hai bên buông súng, lính tráng ôm nhau mà hôn mà khóc, thì dân chúng hai miền vui mừng biết bao. Cuộc chiến đã kéo dài quá lâu. Ngoại trừ những người lãnh đạo, dân chúng không ai mong mỏi chiến thắng. Người dân miền Nam bất cần ai chiến thắng, vì họ nghĩ rằng mặc ai chiến thắng, người dân vẫn là người dân. Đối với người mẹ già mòn mỏi, đối với đứa trẻ thơ ngơ ngác, đối với người lính chiến ngổn ngang trăm nỗi, cuộc chiến không còn có ý nghĩa chánh trị thần thánh nào. Nó trở thành một thứ tai trời ách nước. Người dân miền Nam chỉ mong mỏi hòa bình.
Hòa bình!
Hòa bình!
Đó là ước mơ chung của dân chúng miền Nam. Cái mục tiêu chung bây giờ đạt được rồi. Mọi người trở về xóm làng xây dựng lại. Tài nguyên, đất đai có thừa cho mọi người cùng sống, đâu cần gì phải giành giựt, xô đẩy. Cái sợ nhứt của người dân là làm sao đừng có chuyện ban đêm có người gỏ cửa dẫn thân nhân đi mất tích. Làm sao giữa ban ngày đừng có cường hào ác bá.
Khi cái ước mơ của quần chúng và ước mơ của lãnh tụ là một thì dân chúng có một minh quân vì lãnh tụ nhận nhiệm vụ từ dân.
Khi ước mơ của quần chúng và ước mơ của lãnh tụ khác nhau thì đương nhiên quần chúng sẽ bị gạt và lãnh tụ muốn thực hiện ước mơ riêng của mình bắt buộc trở thành bạo chúa.
Cầu xin được yên ổn làm ăn. Ước mơ đơn sơ của người dân như vậy mà đạt được thì Hồ Chí Minh thật sự là anh hùng của dân tộc, còn hơn nữa, là một vĩ nhân của thế giới như một đề nghị dự định đem ra bàn thảo tại UNESCO. Ông sẽ là người ái quốc đã can đảm chấp nhận tột cùng đau khổ để thi triển tuyệt chiêu 'cứu cánh biện minh cho phương tiện'
Nhưng sự đời lại không phải xẩy ra như vậy.
1.- Ăn cướp
Việc CS ăn cướp khi chiếm được miền Nam như thế nào có đồng bào miền Nam thấy tận mắt, đã có sách báo viết rất nhiều. Nên tôi không có lập lại ở đây. Tôi chỉ nhắc lại một điều mà ít khi người ta nói đến. Đó là trong số những người ăn cướp ngày nay cũng có người ngày xưa liều mạng lên đàng, mang ước mơ xây dựng một thế giới đại đồng, trong đó không có ai ăn cướp của ai.
2.- Bắc-kỳ-trị
Đây là một danh từ húy kỵ, ai cũng nghĩ đến mà không ai dám nói ra, cho nên cần phải định nghĩa rõ ràng thì mới hy vọng tránh được sự chụp mũ hồ đồ.
Trước tiên phải nói rằng dân Việt Nam là một. Không có sắc dân Nam kỳ riêng biệt. Người Nam kỳ cũng chỉ là người Bắc kỳ hai ba trăm năm trước đi vào Nam lập nghiệp. Đa số những người này là lính của Chúa Nguyễn và một số tù binh của Chúa Trịnh. Có thể vì tắm nước sông Cữu Long và uống nước sông Đồng Nai nhiều quá mà giọng nói có khác đi một chút, nhưng tình cãm dân tộc không có chia rẻ. Khi miền Bắc bị những tai ương như lũ lụt, đói kém, dân miền Nam vẫn nồng nhiệt quyên góp để giúp đở. Trong nạn đói Ất Dậu ở miền Bắc, hội y sĩ của BS Nguyễn Văn Thinh trong 20 ngày (15-4 đến 5-5) đã quyên được 153.312 đồng (Chính Đạo tr. 220). Tính theo thời giá bây giờ là bao nhiêu triệu Mỹ kim?
Rừng núi, đất đai miền Nam rộng mênh mông, chưa khai phá hết. Sở dĩ người giàu miền Bắc không chịu vô Nam vì họ không chịu rời quê cha đất tổ, nơi đó có mồ mã ông bà. Chớ người Bắc nào vào Nam lập nghiệp đều có thể sống thoải mái. Đất đai là của Trời cho. Người Bắc mới vô hay người Tàu mới tới đều có thể tự nhiên khai phá đất hoang mà làm vườn tược, ruộng nương của mình. Ngoại trừ trường hợp gian manh đóng tiền lập bằng khoán trên đất mà người dân đã khẩn trước – thì đó là ăn cướp - chớ người miền Nam không có ganh tỵ với người đến sau.
Đến năm 1954, một triệu dân miền Bắc di cư vô Nam, dân miền Nam vẫn nhìn họ như những người bị nạn, đi lánh nạn. Dân miền Nam không có kỳ thị người Bắc di cư.
Những người này mau chóng định cư và làm ăn phát đạt, Họ đã hòa đồng và đóng góp vào sinh hoạt của miền Nam.
Khi Giáo Sư Vũ Quốc Thúc làm Khoa Trưởng trường Luật hay Giáo Sư Trần Ngọc Ninh làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục, không có ai kỳ thị họ là Bắc kỳ. Ngược lại, người Nam khâm phục học vấn cao thâm của họ.
Bắc-kỳ-trị ở đây là một hiện tượng khác. Đây là những tên Bắc kỳ chưa từng biết Saigon ở đâu, Vĩnh Long ở đâu mà lại cầm cái sự vụ lệnh ký ngoài Bắc vào Nam làm Giám Đốc hay phó giám đốc tại các cơ sở hành chánh, kinh tế, an ninh v.v. . .  Còn nhục mạ hơn nữa, chúng ngang nhiên để một tên Bắc kỳ làm đại biểu Quốc hội cho một tỉnh miền Nam. Chủ trương phân biệt dân tộc này mang danh nghĩa của đảng CSVN, nhưng thực chất đảng CSVN chỉ là Xứ Ủy CS Bắc kỳ mở rộng.
Bây giờ hãy nghe Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang nói:
'Cho nên Quốc hội Việt nam chỉ là do Đảng cử dân bầu. Sách trắng viết: 'thông qua bầu cử, người dân tự lựa chọn ra những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình', nhưng thực tế rất nhiều đại biểu quốc hội của một tỉnh không hề sinh ra, lớn lên, cũng không hề làm việc ở tỉnh đó. Có người sinh trưởng, công tác ở Hà Nội lại là đại biểu quốc hội của nhân dân Đồng Nai. Có người sinh trưởng, công tác ở Thanh Hóa lại đại diện cho nhân dân Vũng Tàu' (Tr. 54)
TS Nguyễn Thanh Giang vốn sanh ra tại Thanh Hóa mà còn thưởng thức món giả cầy này không nổi, thì nhân dân miền Nam làm sao đây?
Trung hoa ngày xưa cũng có gởi Thái Thú qua cai trị Việt Nam. Miền Nam sau 1975 cũng có những Thái Thú Bắc kỳ.
Một người cựu Kháng chiến vừa biết tôi vượt ngục mới về, mời tôi một bửa cơm. Tôi đói quá ăn ngon lành. Không biết để an ủi tôi hay tự an ủi mình. Anh bổng nghêu ngao ngâm 'Một khi ta biết thì ta đã . . .'Bài thơ của T.T.KH (đến nay tôi hiểu thì tôi đã, làm lỡ tình duyên cũ mất rồi) nhưng anh ta ngâm chỉ có một câu. Nghe một hai lần đầu thì như có vẽ đùa cợt. Nhưng càng nghe thêm thì càng thấy thê lương, đứt ruột làm sao. Đó là cái bí mật lạnh người mà người miền Nam bây giờ mới thấy thấm.
3.- Mới thương người lính Cộng Hòa
Người dân miền Nam, kẻ cần một tháng, kẻ cần một năm, có kẻ cần cả chục năm để dần dần hiểu rằng miền Nam không có được giải phóng mà là bị ngoại bang ăn cướp.
Chừng đó họ mới thật sự đâm ra thương người lính Cộng Hòa. Tội nghiệp các anh quá. Các anh đi đánh ăn cướp trước sự dửng dưng của các chủ nhà. Trong các gia đình miền Nam đâu có gia đình nào không có người đi lính.
Chúng ta đều biết khi có giấy gọi nhập ngũ thì mạnh ai nấy chạy chọt hoản dịch hoặc trốn lính. Nếu chạy chọt lần thứ nhứt không có kết quả mà phải tòng quân thì chạy chọt lần thứ hai kiếm một chỗ an toàn, không ra trận. Cho nên người lính Cộng Hòa đi đánh trận, ngoài một số nhỏ tình nguyện, đa số là những người không có chỗ nương tựa, họ thật sự đơn côi.
Thách thức hơn nữa, những người trốn nghĩa vụ không biết nhục lại là người kiêu ngạo, hãnh diện, tự đắc, khoe khoan rằng mình có gốc to! Người lính chiến sinh tử chỉ có các đồng đội cùng cảnh ngộ, chung thuyền với mình chỉ có người chỉ huy trực tiếp. Họ phải tích cực giết giặc nếu không thì bị giặc giết.
Nhưng trên tột cùng thì không có ai đáng ngưỡng mộ hay kính phục để mà hy sinh không nuối tiếc.
Người ban Huấn từ phải để 'Tổ Quốc trên hết', người ban Nhật Lệnh phải 'nêu cao Chánh Nghĩa Quốc Gia', chiều nay, người thì uống whisky, người thì đếm bạc, tối nay quay quần với vợ con bên cái TV. Trong gia đình không chừng có một hai thanh niên đã đến tuổi đi lính mà không biết bằng cách nào đó lại chưa ra chiến trường. Người lính biên ải ôm cái radio nghe Huấn Từ, Nhật Lệnh, chiều nay nhớ nhà, không biết tối nay vợ con đi ngủ có được no bụng không. Trong tình trạng này, họ nghĩ gì? Tổ Quốc là gì? Tổ Quốc của ai? Có Chánh Nghĩa không? Cái Chánh Nghĩa nào?
'Các nhà giàu bỏ tiền ra mua bằng cấp và thông hành cho con đi du học với cả bạc triệu để khỏi đi lính. Chỉ có nhà nghèo con mới bị động viên. Chiến tranh trở nên chiến tranh của người nghèo, hy sinh để bảo vệ cho nhà giàu.'Nguyễn Trân, tr. 587.
Cuộc chiến đã chi phối mọi khía cạnh của đời sống. Khi mới lọt lòng mẹ, ai cũng đã nghe tiếng súng rồi. Lớn lên, ai cũng đã từng thấy người từ giả gia đình đi nhập ngũ, đã từng thấy xác đem về. Người lính coi sự kiện này như một định mạng, trời kêu ai nấy dạ, không thể tránh được.
Giữa trận, anh phải hăng hái, nhưng đó là làm sao để mà sống sót. Nếu anh có hy sinh thì tại anh hết thời. Người ta dửng dưng.
Nhưng bây giờ, anh thua cuộc chiến, thì người ta mất nhà, mất cả tương lai. Bây giờ người miền Nam mới hiểu họ đã không ủng hộ tinh thần người lính Công Hòa đúng mức. Dường như dân miền Nam còn thiếu một tiếng xin lỗi với người lính của mình. Cãm giác là hối tiếc, là tự trách mình, hổ thẹn với chính mình, ân hận rất nhiêu. . . Ăn cướp đánh ở các nhà xa xôi, mình không lo, có khi mình không tin là có thật. Ăn cướp đánh nhà mình thì mình thấm đòn liền.
Nhưng cãm giác đối với bọn ngoại bang ăn cướp là căm thù. Ai ai cũng vậy. Nếu như họ làm lụng cực khổ để xây dựng nhà cửa, vườn tược cả đời, bây giờ bị ăn cướp lấy đi mất sạch thì vụ Mỹ Lai đâu có gì mà thắc mắc. Nếu có được một ngàn vụ Mỹ Lai thì có lẽ đã chận được ăn cướp rồi. Chất độc da cam cũng vậy. Ăn cướp đâu có tôn trọng luật lệ quốc tế, thì tại sao mình phải tôn trọng. So với mấy trăm ngàn người bỏ mạng ngoài biển khi vượt biên thì mấy gia đình bị chất độc da cam có nhằm nhò gì mà than.
Cho nên cái 'chánh nghĩa chống Mỹ cứu nước' mà CS vớ được ngày xưa cũng tự nó hủy diệt vì nếu phải chống ăn cướp thì chủ nhà nhờ ai cũng đúng thôi.
Bây giờ thì Việt Cộng lại phải 'yêu Mỹ cứu nước' rồi!
Giống như Ngô Đình Diệm đã làm ngày xưa, CS Bắc Việt sau năm 1975, công khai khinh thường nhân dân miền Nam.
Chánh nghĩa của nguời lính Cộng Hòa lu mờ trong chiến tranh, bây giờ nhờ CS tự lột mặt nạ, làm cho nó bổng dưng sống dậy. Chánh nghĩa quốc gia bây giờ không còn là lời tuyên truyền rổng mà là cái gì nhân dân miền Nam thấy tận mắt. Đó là: phải thắng Việt Cộng.  Chớ để thua là mất nhà, mất cửa, và bị Bắc- kỳ-trị và sau lưng là chủ nợ Trung Cộng.
Nhờ CS tự lột mặt nạ mà người dân miền Nam mới thay đổi nhản quan với người lính Cộng Hòa. Từ một thái độ 'ai chết mặc ai' trở thành tiếc nuối thừa nhận 'các anh đã từng vì dân, vì nước'.
Nhờ đó mà người lính Cộng Hòa mới rủ bỏ được mặc cãm thua trận, vì trong dòng lịch sử, thua trận chỉ là một chuyện nhỏ. Cái chánh nghĩa có hay không mới là chuyện lớn.

HỒ TẤN VINH
Úc Châu
Ngày 3 tháng 11 năm 2012
(Còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí