*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/12/28

Gia đình nào có khả năng cho con du học?



Gia đình nào có khả năng cho con du học?

Huy Phương

Du học sinh Việt tại Mỹ


Trong số 60,000 du học sinh Việt Nam hiện nay, ngoại trừ khoảng hơn 4,000 người học bằng ngân sách chính phủ theo đề án 322, vài ngàn người theo học bằng các học bổng chính phủ, số còn lại đi học bằng con đường tự túc. Số lượng sinh viên Việt Nam học tập tại các trường đại học và cao đẳng của Mỹ lên tới gần 15,000 người trong năm học hiện tại, đưa Việt Nam lên thứ 8 trong danh sách các nước có nhiều sinh viên học tại Mỹ. Trong năm học này, số sinh viên người Việt theo học tại các đại học và cao đẳng của Mỹ đã tăng 14%, từ 13,112 người lên thành 14,888 người. Với con số này, Việt Nam hiện xếp thứ 8 trong số những nước có nhiều sinh viên du học nhất ở Mỹ, cách đây 5 năm, số sinh viên du học Mỹ chỉ đứng hạng 20.

Những con số

Những con số thực tế sau đây do gia đình một du học sinh tại Mỹ (thuộc loại giàu có) cung cấp cho chúng tôi vào thời điểm 2011:
- Ðóng lệ phí xin visa: $140 cho lãnh sự quán tại VN (nếu phỏng vấn không đậu thì không hoàn trả)
- Dịch vụ làm hồ sơ (chọn trường, liên lạc với trường và hướng dẫn làm thủ tục phỏng vấn, hồ sơ chứng minh tài chính ...) từ $1,500 - $2,000 (nếu mình tự làm thì không mất tiền).
- Chi phí cho du học: Nếu vào trường cộng đồng: Học phí từ $15,000 - Vào thẳng các đại học từ $30,000 đến $40,000/năm (tùy theo trường và tiểu bang).
- Ăn, ở, đi lại tự túc: Thuê nhà hoặc share phòng từ $350 đến $1,000 (rẻ như ở Dallas, đắt như San Francisco) một tháng. Một năm khoảng $4,000 - $12,000. Tiền ăn, tiền xe khoảng $150- $200/1 tháng. Một năm khoảng $1,800- $2,400.
- Ở ký túc xá: Ăn ở trong trường 1 năm từ $10,000 -$15.000.
Tiền di chuyển: ít đi lại khoảng $600-$1,000/ năm
- Bảo hiểm y tế: $1,000/năm
- Sách và tài liệu: $500 (tùy thuộc vào môn học).
- Chi phí về thăm nhà mỗi năm một: $1,500.
Tổng số chi phí cho 1 năm du học tại Mỹ từ: $45.000 - $60,000.

Một sinh viên từ Việt Nam muốn sang du học tại Mỹ thường phải lo từ các dịch vụ ở Mỹ, "bao trọn gói" khoảng $2,000. Dịch vụ sẽ tìm đại học ghi danh cho sinh viên cho đến khi họ được cấp mẫu I-20, nghĩa là chấp nhận cho sinh viên được ghi danh theo học tại một trường ở Mỹ, lúc đó Tòa Ðại Sứ Mỹ mới cho phép sinh viên được vào phỏng vấn. Cũng không phải ai được ghi danh tại một trường ở Mỹ đều giỏi Anh ngữ, bên cạnh nhân viên sứ quán Mỹ có thông dịch viên. Nhân viên phỏng vấn sẽ xem xét học bạ, giấy tờ công ăn việc làm, tài khoản ngân hàng, bất động sản của cha mẹ, ý hướng của du học sinh. Việc phỏng vấn du học sinh càng ngày càng gay go, nhưng cứ đóng lệ phí $200 là được vào phỏng vấn, nên có du học sinh kiên nhẫn đi phỏng vấn đến lần thứ 4 mới đậu, nhưng cũng có du học sinh cảm thấy khó khăn nên chuyển sang các nước khác.

Dư luận vẫn thường cho rằng sinh viên Việt Nam được du học sang Mỹ đều là "con ông cháu cha" hay "con cái cán bộ cao cấp," nhưng theo kỹ sư Nguyễn Hoan, một công dân Mỹ ở Dallas Ft Worth có những khế ước làm việc tại Việt Nam và là người gần gũi với các du học sinh ở địa phương thì cho rằng cũng có 30% là thuộc gia cảnh trung bình đã tạo đầy đủ chứng từ nhà đất, tài khoản hay học bạ vì muốn sở hữu mọi thứ giấy tờ ở Việt Nam không phải là chuyện khó. Một viên chức chỉ có số lương $500 mỗi tháng, có thể làm những hợp đồng (ma) với những công ty quen biết, để có thể có đủ con số lợi tức cho con du học.

Du học ở đâu?

Một sinh viên tên Thảo ở Saigon, sau khi được cấp visa du học vào Mỹ đã cho biết cô đã phấn đấu để được du học Mỹ vì Mỹ có hệ thống giáo dục tân tiến, bằng cấp được cả thế giới công nhận, đại học Mỹ có các hoạt động văn hóa thể thao, và có những con người năng động giúp cho cô có kinh nghiệm sống, và giúp tìm hiểu nhiều nền văn hóa khác nhau của một quốc gia đa văn hóa như tại Mỹ. Nhiều gia đình cũng tính toán vào giá trị của đồng ngoại tệ, du học ở Anh Quốc, Thụy Sĩ thì tiền quá cao, rẻ thì chọn New Zealand, Phần Lan hay chọn "gần nhà" như Úc, Singapore. Cách đây hai năm, du học ở Úc rẻ như Mỹ nhưng bây giờ du học ở Úc lại tốn kém hơn, nên có sinh viên sau hai năm ở Úc lại đổi sang quốc gia khác.

Nhiều người cho rằng Mỹ cấp visa du học căn cứ vào khả năng tài chánh của gia đình ứng viên du học, nhưng sự thật có nhiều con em của các "đại gia" giàu có nổi tiếng ở Saigon khi vào phỏng vấn vẫn bị rớt. Năm ngoái một tờ báo ở Saigon đã nêu vấn đề thắc mắc về nguyên tắc để được cấp visa du học, đã được Lãnh Sự Quán Mỹ tại Saigon trả lời là vấn đề này do các viên chức phỏng vấn sứ quán có toàn quyền quyết định mà không cần giải thích hay cứu xét khiếu nại.

Về hay ở lại?

Ở Việt Nam hiện nay du học nằm trong cơn sốt xuất ngoại, cũng như việc lấy chồng ngoại quốc, hay xuất khẩu lao động. Lấy chồng Ðài Loan hay đi làm công nhân là đường ngắn, những gia đình có học vấn nghĩ con đường xa, đầu tư cho tương lai gia đình bằng cách tạo cơ hội cho con ra ngoại quốc du học, nên dù phải bán xới của cải, vay mượn để có tiền lo cho con. Trên lý thuyết cho con đi du học là để kiếm bằng cấp và tương lai cho con, nhưng sự thật thì cha mẹ nào cũng muốn cho con có cơ hội ở lại ngoại quốc (có việc làm hay kết hôn) dù là Mỹ, Canada hay Úc, để lập một "đầu cầu" sau này cho toàn bộ gia đình rời bỏ Việt Nam. Hầu như tất cả du học sinh đi làm trong các tiệm ăn ở Dallas Ft Worth mà tôi được gặp, cố đặt câu hỏi "về hay ở lại" với các em, đều được trả lời với một cái nhún vai hay một nụ cười rộng mở. Các em cho biết có du học sinh sang đây chưa đầy hai năm đã có cơ hội kết hôn rồi. Sinh viên Ðào Nhật, quê ở Hải Phòng, mới sang Mỹ chưa đầy năm, thì dè dặt hơn, cho biết một cách thành thật: "ngày ấy nếu không có ai níu kéo thì về," và "nếu kiếm được việc làm ở Mỹ thì cũng tốt thôi!" Ðó là đối với các sinh viên không có cha mẹ là cán bộ cao cấp trong chính phủ, không có cơ sở làm ăn của gia đình hay không là "đại gia." Trong mười năm, ít nhất là một vài lần, tôi được những người quen có con cháu du học, nửa đùa nửa thật nói rằng: "Cháu nó qua du học, bác có đám nào thì giới thiệu cho cháu đi!"

Nhiều sinh viên khá giả du học trở về để quản lý các dịch vụ hay tài sản của gia đình. Báo chí kể về cô Bùi Khánh Trang 23 tuổi, được gia đình cho du học Anh Quốc về ngành quản lý kinh tế, về nước năm 2010, hiện nay quản lý một nhà hàng ăn ở Saigon với số vốn lên đến 400,000 đô la, số nhân viên lên đến 80 người, doanh thu mỗi ngày lên đến 2,000 đô la. Hay như con trai ông Nguyễn Tấn Dũng, tiến sĩ công chánh, du học xong chắc chắn phải về nước, đã sẵn có thế lực để "củng cố đời con," bây giờ đã có chức thứ trưởng. Những trường hợp như vậy thì đâu cần ở lại ngoại quốc.

Huy Phương

(Kỳ sau: Buồn vui của một du học sinh Việt Nam trên đất Mỹ)

2011/12/26

Quản lý Văn hóa, Văn nghệ: Xơ cứng và Tụt hậu



Quản lý Văn hóa, Văn nghệ: Xơ cứng và Tụt hậu

Ngô Minh

Là một nhà báo, một công dân tôi đã đọc kỹ phần nói về văn hóa văn nghệ trong các Nghi quyết của Đại hội ĐCS VN. Đảng nêu khẩu hiệu :" Phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội", hay :"xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Điều đáng buồn là tất cả những vấn đề nêu trên đã được nêu trong nhiều nghị quyết Đại hội Đảng nhiều khóa trước, nhưng không thực hiện , nên tình trạng quản lý văn hóa ngày càng tụt hậu so với cuộc sống xã hội đang đổi mới hàng ngày.

25 năm đổi mới vừa qua, tuy đến nay nước ta vẫn là nước chậm phát triển , vẫn xếp hàng ở nhóm cuối trong ASEAN về kinh tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực "văn hóa,văn nghệ" thì phương thức quản lý vẫn không khác gì thời chiến tranh hay thời bao cấp. Nghĩa là giáo điều, nặng về "cấm đoán"," "canh gác", tuyên truyền một chiều , mà thiếu sự đối thoại cởi mở, tạo ra môi trường dân chủ, tự do để kích thích sáng tạo.

Chỉ hơn chục năm qua, đã có hàng chục cuốn sách bị thu hồi, bị "xay bột" mà không được giải thích nguyên nhân . Nhiều bộ phim" có vấn đề" bị duyệt đi duyệt lại hàng chục lần, theo " Hồi ký điện ảnh" của Đặng Nhật Minh thì cả Tổng bí thư Đảng cũng phải đi duyệt phim !. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Tạp chí Sông Hương đã dịch và in tiểu thuyết Trăm năm cô đơncủa nhà văn Mác-ket, vừa in xong là bị cấm,bị xay bột. Tác phẩm được giải nô-bel của một người cộng sản cũng bị xay bột, thật kỳ cục ! Đọc lại những cuốn sách bị "cấm", bị " chặn" ( ví dụ Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Vào đời của Hà Minh Tuân, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, Ly thân của Trần Mạnh Hảo… hoặc có những cuốn chỉ vừa mới in xong đã bị thu hồi, cấm không được phát hành nhưChuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, bản dịch của Nguyễn Quang A, thơ Chân dung của Xuân Sách,Chuyện Làng Ngày Ấy của nhà văn Võ Văn Trực.…

Trong nhiều trường hợp, có những cuốn sách tuy đã lọt lưới kiểm duyệt của các biên tập viên Nhà xuất bản nhưng lại bị "các cơ quan chức năng" trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng kịp thời phát hiện nên có lệnh thu hồi và lắm khi người được lệnh ký quyết định thu hồi lại chính là kẻ đã ký cho nó ra mắt tức các ông Giám đốc của các Nhà xuất bản! ( theo nguyêntrongtao.org).Trong các tác phẩm ấy, tôi thấy chẳng có vấn đề gì phản quốc, phản dân tộc, phản nhân loại cả hay tuyên truyền văn hóa đồi trụy…cả. Đa số nêu lên mặt trái của sự thật trong cuộc chiến tranh, những ấu trĩ, những khiếm khuyết của lãnh đạo Đảng, chính quyền cấp này, cấp khác . Người viết nêu lên những sự thật đau lòng trong xã hội là giúp Đảng , nhà nước nhìn lại đội ngũ của mình , đó là việc tốt. Trong hình dung của các nhà văn, đội ngũ cán bộ tuyên huấn từ Trung ương đến địa phương càng ngày càng đông đảo, như những "ông Kẹ" suốt ngày đeo mục kỉnh, đọc dò từng trang sách, cột báo, để tìm ra những ý tứ, câu chữ nào "có vấn đề" để quy chụp là "nói xấu chế độ" , "chống Đảng" để "ngăn chặn ". Vì "sợ" tù đày, con cái gia đình bị đe dọa, rất nhiều nhà văn phải "tự biên tập mình" trước từng trang sách. Viết như thế làm sao mà có tác phẩm lớn được .

Hình như đội quân tư tưởng không chịu xem lại nhận thức của mình có bị xơ cứng không, có bị vô cảm trước thân phận nhân dân, thân phận đất nước, đang vô cùng khốn khó không ?

Các Hội văn nghệ trung ương , địa phương đang bị biến thành" cơ quan hành chính", nhà văn trở thành "cán bộ tuyên truyền". Tôi nghĩ, có nhiều vấn đề trong xây dựng CNXH chúng ta đang học tập kinh nghiệm Trung Quốc. Tại sao ta không học tập việc Trung Quốc cho in và trao giải thưởng tiểu thuyết " Phong nhũ phì đồn " ( ta dịch là "Báu vật của đời" ) của nhà văn Mạc Ngôn . Một tác phẩm mà nếu in ở Việt Nam ,thì chắc chắn tác giả của nó sẽ bị làm tình làm tội. Ở Trung Quốc các nhà văn viết rất thoải mái đủ mọi khía cạnh độc ác, tàn bạo của thời kỳ Đại Cách mạng văn hóa, nhưng ở nước ta viết về CCRĐ, Nhân văn giai phẩm .v.v.. lại bị cấm đoán, ngăn chặn ?. Ngay cả viết về những nét đẹp, nét hay của một số nhà văn "có vấn đề" trong Nhân văn giai phẩm, trong "thời kỳ xét lại" cũng bị ngăn chặn. Viết về những sai lầm , ấu trĩ của Đảng làm cho dân tin Đảng hơn, làm cho Đảng trong sạch hơn ( "thuốc đắng dã tật"), sao lại cho là chống đối. Che giấu, tâng bốc chỉ làm cho dân mất lòng tin . Nói thật lòng, 25 năm qua, việc " quản lý văn nghệ văn hóa" giáo điều, một chiều đã làm cho dân xa Đảng hơn, làm chậm , thậm chí cản trở rất lớn bước tiến của đất nước !

Việc quản lý văn hóa đang ngày càng lúng túng, bối rối trong thời @. Quan điểm cố hữu là : cái gì không quản được thì cấm, như internet, karaoke, vũ trường… Thế thì hội nhập làm sao ? Xây dựng cuộc sống văn hóa thì rất hình thức và gây lãng phí. Cuộc vận động "xây dựng làng xã và cơ quan văn hóa" là một ví dụ. Cả một cơ quan tỉnh ủy hay cơ quan Sở văn hóa một tỉnh mà mới được công nhận và cấp bằng "cơ quan văn hóa" cách đây vài năm, thì thật buồn cười. Chẳng lẽ trước đó họ không phải là cơ quan văn hóa hay sao ? Thế mà muốn có tấm bằng đó thì phải làm báo cáo, mời duyệt đi duyệt lại, phải "xin-cho", phong bì, liên hoan, rồi làm lễ đón bằng, tốn kém hàng chục triệu đồng. Cả nước có hàng chục triệu cơ quan, trường học, làng xã phải tốn tiền để có tấm bằng "Cơ quan văn hóa" như thế! Rồi đùng một cái, lãnh đạo cơ quan là người tham nhũng, cờ bạc, mại dâm, lãnh đạo làng văn hóa lại say rượu, chửi bới dân. Xây dựng làng văn hóa mà cho chặt hết những hàng rào dâm bụt, hàng rào chè tàu, bờ tre giếng nước, …để xây tường gạch quanh nhà như ở Tân Kỳ , Nghệ An là sự phản văn hóa nghiêm trọng.

Đó là văn nghệ, văn hóa, còn báo chí của hệ thống báo Đảng đã thực sự tách khỏi cuộc sống nhân dân hàng ngày từ nhiều năm nay. Tấtcả báo Đảng ở hầu hết địa phương trụ sở tòa ngang dãy dọc, xe con hai ba chiếc, mỗi năm tiêu tốn hàng mấy chục tỷ đồng tiền thuế của dân) nhưng lại làm ra thứ báo "không ai đọc", chỉ dùng để gói đồ, vì không phản ảnh những mối quan tâm của nhân dân . Thậm chí bảo vệ những bọn tiêu cực ở địa phương đã bị các báo Trung ương vạch mặt. Đảng lấy tiền thuế của dân nuôi 60 tờ báo mỗi năm hàng trăm tỷ đồng , rồi lại lấy hàng trăm tỷ tiền thuế của dân cho các chi bộ, cơ quan Đảng mua những tờ báo đó về để bao gói, chứ không phải để đọc, thật đau lòng. Còn hàng ngày người dân đọc báoThanh Niên, Tuổi Trẻ, Kinh tế Sài Gòn. An Ninh Thế giới, Tiền phong, đọc báo trên mạng internet, đọc các trang Web., blog cá nhân.v.v…Báo mạng blog từ vài năm nay đã trở thành thông tin chính thống của người dân.

Đảng CS phải nghiêm khắc kiểm điểm trong 25 năm vừa qua, trong lúc cả nước vắt mồ hôi, trí tuệ , tiết kiệm từng đồng vốn để đổi mới, làm tăng trưởng kinh tế đất nước, các báo Đảng lại là đội quân đang làm nghèo đất nước ! Đã có luật báo chí, mà không "quản" theo luật mà quản theo mệnh lệnh của lãnh đạo: " Phải viết thế này…không được in những bài như thế…" thì thật khó cho Tổng biên tập các báo. Báo chí là một nghề có thể tự nuôi sống mình bằng sản phẩm .Ở nước ta có hàng chục tờ báo giàu có, nhưng vẫn làm tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng, được nhân dân đón đọc, tại sao các báo khác lại sống bằng tiền thuế của người dân nghèo ? Thật không công bằng .Và đó cũng là nguyên nhân làm cho người đọc quay lưng lại với báo Đảng . Theo chúng tôi, báo chí phải phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, nhưng phải vay vốn mà làm báo ( trừ một số tờ báo được bao cấp nhưTạp chí Hán Nôm… vì cần phục hồi vốn cổ). Những tờ báo nào không tự nuôi sống được mình bằng tiền bán báo thì nên dẹp bỏ, vì nhà báo cũng là người lao động không thể sống trên mồ hôi nước mắt của người lao động khác ( năm 2004, Trung Quốc đã đóng cửa trên 700 tờ báo vô tích sự).

Quản lý văn hóa, văn nghệ báo chí theo cách hiện nay là rất cũ kỹ, lỗi thời.. Đáng tiếc, Nghị quyết Đảng nêu " Đổi mới nội dung và phương pháp quản lý của Nhà nước về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp, đáp ứng nhu cầu mới của sự nghiệp phát triển văn hóa của thời kỳ công nghiệp hóa… Nhưng không ai làm cả, vì tất cả bộ máy đã trở nên vô cảm và cũ kỹ, không theo kịp thời đại.

Ngô Minh

Cựu đại sứ Việt Nam Lê Văn Bàng thú nhận

Cựu đại sứ Việt Nam Lê Văn Bàng thú nhận
 
HÀ NỘI (NV) - Nhất định buộc Mỹ phải bồi thường chiến tranh rồi mới chịu thiết lập bang giao. Mỹ không chịu. Tới khi muốn quá, nài nỉ xin được bang giao vô điều kiện thì bị lờ đi vì nước Mỹ có những tính toán khác.
 
Cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn Lê Văn Bàng. (Hình: Tuần Việt Nam )
 
Ðây là những điều được ông Lê Văn Bàng, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn sau lên làm thứ trưởng Ngoại Giao, nghỉ hưu năm 2010, kể lại qua cuộc phỏng vấn của ký giả Huỳnh Phan trên báo điện tử Tuần Việt Nam.

Lỡ quá nhiều dịp vì các tính toán sai lầm của đám lãnh tụ Hà Nội cộng với hoàn cảnh của một nước nhỏ trên bàn cờ quốc tế, bởi vậy, đàm phán từ sau khi chiến tranh chấm dứt, mãi 20 năm sau Việt Nam mới thiết lập được bang giao với Mỹ.

Cuộc phỏng vấn ông Bàng được Tuần Việt Nam phổ biến trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2011. Ông là một nhà ngoại giao có cơ hội tham dự từ đầu các cuộc đàm phán cho tới khi trở thành đại sứ đầu tiên của Việt Nam ở Hoa Thịnh Ðốn.

Bắt đầu đàm phán bang giao từ năm 1977 dưới thời Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter, Lê Duẩn là tổng bí thư đảng CSVN, ông Lê Văn Bàng nhìn nhận việc Việt Nam nhất định đòi Mỹ $3.25 tỉ USD viện trợ không hoàn lại trong 5 năm và khoảng $1 tỉ USD đến $1.5 tỉ USD viện trợ lương thực và hàng hóa "không ngờ đó lại là chỗ nghẽn trong đàm phán bình thường hóa giữa Việt Nam và Mỹ."

Phía Hà Nội "kiên quyết đòi" khi viện dẫn điều 21 của bản Hiệp Ðịnh Paris và cả công hàm Tổng Thống Nixon gửi cho Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1973 đề cập đến viện trợ. Nhưng không ngờ lại bị ông Nixon "gài" ngược bằng lời rào đón trong công hàm là viện trợ "theo những quy định của hiến pháp" của mình.

Tổng Thống J. Carter thuộc đảng Dân Chủ nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ, muốn thiết lập bang giao với Việt Nam nhưng "ông ta vấp phải một thách thức rất lớn từ phái Cộng Hòa trong Quốc Hội," ông Bàng nói.

"Từ đầu tháng 5, 1977, khi Mỹ và Việt Nam bắt đầu đàm phán bình thường hóa ở Paris , Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu cấm bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam ," ông nói.

Sau đó, tình hình khu vực biến chuyển nhanh chóng và dồn dập.

"...nhất là sự căng thẳng với Trung Cộng, với việc cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước, và Campuchia, khi chính quyền Khmer Ðỏ đã có các cuộc xâm phạm biên giới phía Tây Nam, lên tiếng đòi xem lại vấn đề phân định lãnh thổ giữa hai nước, cũng như cắt đứt quan hệ ngoại giao", ông nói. Cũng thời gian này, Việt Nam quyết định bám vào Nga hoàn toàn "chuẩn bị ký hiệp ước liên minh với Nga, cho phép hải quân của họ sử dụng Cam Ranh. Ðổi lại Nga tăng viện trợ cho Việt Nam ." Ông nói Việt Nam chuyển hướng chiến lược nên nhu cầu đòi tái thiết từ viện trợ Mỹ "không còn quan trọng như trước nữa."

Trước sức ép quá nóng từ phương Bắc, Hà Nội cử một phái đoàn đi Hoa Thịnh Ðốn vì "nếu không có luồng gió ôn hòa từ phía Tây thì căng lắm."
Ông Nguyễn Cơ Thạch, lúc này là thứ trưởng Ngoại Giao, được cử đi "sang đàm phán kín với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Holbrooke, chấp nhận bình thường hóa vô điều kiện."

Tuy nhiên, đạt được thỏa thuận với ông Holbrooke rồi, "ông Thạch chờ suốt mà không có câu trả lời từ Bộ Ngoại Giao Mỹ." Ông Bàng kể lại rằng: "Sự nhượng bộ của Việt Nam đã quá muộn, bởi, trong thời gian đó, đã có những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, và Mỹ không thể ứng xử như cũ. Bình thường hóa liên lạc với Trung Cộng lúc đó là ưu tiên hàng đầu của Mỹ."

Ông Bàng xác nhận phía Việt Nam quá thèm bang giao với Mỹ đến độ cử vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ thời đó là Trần Quang Cơ sang New York từ tháng 9, 1978 và "cố chờ" câu trả lời nên ở đó đợi đến tháng 1, 1979 (gần tới lúc Việt Nam bị Trung Cộng đánh dọc 6 tỉnh biên giới), hy vọng Mỹ thỏa thuận xong với Trung Cộng thì sẽ tính tới chuyện bang giao với Việt Nam nhưng vẫn không thấy gì.

Ông Bàng cho biết phía Việt Nam đã chuẩn bị người để mở đại sứ quán "đâu vào đấy" để mở sứ quán ngay sau khi ký kết bình thường hóa.
Theo ông Bàng, Mỹ tập trung vào "con bài" Trung Cộng, "dựa trên cơ sở sự bất đồng sâu sắc giữa Nga và Trung Cộng, nhằm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới giữa Mỹ và Nga." Bởi vậy, "đến thời điểm lãnh đạo Việt Nam thực sự mong muốn bình thường hóa ngay với Mỹ, phía Mỹ lại chưa muốn. Bởi, như vậy, họ khó thúc đẩy bình thường hóa và cải thiện quan hệ với Trung Cộng được."

Ông Bàng cho rằng, trong nỗ lực thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ, "Việt Nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị 'dập' bất cứ lúc nào."

Rồi đến cuối năm 1978 Việt Nam tấn công chiếm đóng Campuchia, thì "mọi mối tiếp xúc (đàm phán bang giao) hầu như bị cắt đứt," ông nói.

Nước Mỹ tức giận nên "ngay cả vấn đề MIA/POW, một trong những lời hứa của ông Jimmy Carter với hiệp hội những gia đình có người Mỹ mất tích trong chiến tranh khi tranh cử, Mỹ cũng chẳng quan tâm nữa."

Mãi tới khi kiệt quệ kinh tế, năm 1985 lạm phát lên tới 430% (theo tài liệu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), chế độ Hà Nội thấy không còn con đường nào khác ngoài việc "đổi mới" kinh tế để tự cứu mình khỏi thế bị bao vây, cô lập," Mỹ mới có ý đối thoại trở lại.

Năm 1986, lạm phát Việt Nam là 453.5%, cuối năm, hai Nghị Sĩ Gary Hart và Richard Lugar đến Hà Nội, gặp ông Nguyễn Cơ Thạch.

"Hai điều kiện họ đưa ra để nối lại đàm phán bình thường hóa là giải quyết vấn đề POW/MIA và Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia." Ông Bàng kể. Việt Nam vội vàng đồng ý nhưng "cho dù Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân vào tháng 9, 1989, đến tận năm 1991, phía Mỹ vẫn chưa tin.

Họ bảo rằng biết đâu Việt Nam rút ở đầu này, nhưng lại vào Campuchia ở đầu khác."

Nhiều nghị sĩ Mỹ cũng không tin phía Việt Nam thành thật trong việc hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Thậm chí phải đưa một phái đoàn Mỹ tới một nhà tù ở Thanh Hóa bị nghi là còn giữ tù binh Mỹ để kiểm soát.

Tới thời TT Clinton, khi Mỹ đồng ý bỏ cấm vận Việt Nam năm 1993, lại "rộ lên chuyện tài liệu Nga." Thời gian này, vì có tin tung ra từ Nga là tù binh Mỹ được CSVN gửi sang Nga, lại còn được đại tá tình báo Nga Kalugin xác nhận. Hà Nội phải giải thích, chứng minh vất vả mãi đến năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận hoàn toàn thì năm sau mới thiết lập được bang giao.

Bây giờ, sau những bước đi chậm chạm, Việt Nam đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa gỡ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam.

Khi gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp Liên Hiệp Quốc ngày 26 tháng 9, 2011, bà ngoại trưởng Mỹ vẫn đòi hỏi Hà Nội phải cải thiện nhân quyền để hai nước có thể tiến xa hơn nữa trong mối bang giao nhiều mặt. (TN)
 
Theo NguoiVietOnline