*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/03/26

Tử Thần Mang Hộ Chiếu Việt Nam?

Tử Thần Mang Hộ Chiếu Việt Nam?

 24-03-2011 - Kỷ niệm 85 năm đám tang Cụ Phan Chu Trinh & Kính điếu các nạn nhân của Tử Thần CAVN.

Đinh Tấn Lực


"
Cái chết là giải pháp cho mọi vấn đề" 
- Joseph Stalin

Đồng chí Stalin (kính mến) -- kẻ từng được "cha già" họ Hồ tôn là vị "cha già của thế giới XHCN" -- hễ đã phán thì cấm có sai.

Giải pháp để có một VN độc đảng là tận diệt tất cả các đảng phái khác.
Giải pháp để giữ một VN độc đảng vẫn là tận diệt tất cả các đảng phái khác.
(Thương mình thương một, thương Ông thương mười là ở chỗ này chăng?).

Nạn nhân của thời 1930-1945 thì hằng hà sa số, đếm không xuể/kể không hết. Cả VN Quang Phục Hội & Tâm Tâm Xã, cả Đại Việt, cả Việt Quốc, cả Việt Cách, cả An Nam Độc Lập Đảng… thậm chí, cả những đồng chí đầu súng trăng treo cùng trường nhưng khác phái. Tiêu biểu của nỗ lực CS Quốc Tế III tận diệt đồng chí CS Quốc Tế IV là trường hợp của Trốt-kít Tạ Thu Thâu: Trong buổi phỏng vấn ngày 25-6-1946, Hồ Chí Minh đã trả lời Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés (Đó là một người yêu nước, chúng tôi đau buồn khi được hung tin... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt)! Chẳng ai nỡ nghĩ đến chuyện quyết toán vặt, nhưng ngay cả con lộ Tạ Thu Thâu ở Sài Gòn lẫn Mỹ Tho đều bị đổi tên sau ngày miền Nam thất thủ.

Nạn nhân của thời sau 1945, đặc biệt là sau 1975, cũng là vô phương đong đếm. Quả là một cuộc rửa hận/trả thù/xử lý vô tiền khoáng hậu ở nước ta. Bất kể đó là đảng viên các chính đảng kể trên còn kẹt lại miền Bắc; đã di cư vào Nam năm 1954; hoặc bị liệt vào hàng địch/ngụy của "chế độ cũ"… Hay thậm chí, ngay cả các đảng viên lão thành cách mạng của CSVN, những người đã nghiệm ra rằng gông cùm thực dân còn nhẹ nhàng hơn xích xiềng ý thức hệ; đã thấy ra mặt thật của "chiến thắng" là "thống nhất" cả nước vào tròng nô lệ Quốc Tế III; đã cọ xát với nỗi nhục đói nghèo/lạc hậu của đất nước thời "hậu giải phóng"; hay đã dự kiến cả tương lai đất nước gắn liền vào một đận Bắc Thuộc vĩnh viễn....

Tiến trình khai trừ và thanh trừng, do đó, nói theo ngôn ngữ tiếp thị ngày nay, là "2 trong1". Hễ không phải bầu bạn anh em thì hẳn phải là thế lực thù địch. Cũng vậy, hết đồng chí ắt phải là kẻ thù, không thể khác. Mà đã là kẻ thù thì tất yếu là phải chết -- chết ngay/chết dần/chết đói/chết kiệt/chết thảm/chết đột biến/chết tiệm tiến/chết tự nhiên/chết tai nạn/chết bờ/chết bụi/chết ngộp/chết chìm/chết tù/chết bệnh/chết dở/chết tiệt v.v… -- kiểu nào cũng được, càng nhanh càng tốt, nhưng nói chung là phải chết, không chỉ bởi hệ vô thần khẳng định Chết Là Hết, mà còn bởi đối sách xuyên suốt của lãnh đạo là Chết …Cho Yên Chuyện.

Thử tạm liệt kê một vài trường hợp khai trừ/thanh trừng đồng chí tương đối dễ nhớ đã xảy ra ở xứ này, để xem thử có phải chết là hết hay không:

Ông Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), (còn được gọi là Bảy Trấn Chợ Đệm), tác giả quyển sách gây chấn động cả đảng: Viết cho Mẹ và Quốc Hội , từng nhận giải Hellman-Hammett năm 1997.

Ông Trần Độ (1923-2002),
 tác giả Nhật ký Rồng Rắn , được ông Hà Sĩ Phu điếu tặng cặp đối "Văn võ tung hoành, trung tướng phong trần, thế sự song kiên, song trọng đảm - Bắc Nam xuất nhập, đại quân tế độ, hùng binh nhất trượng, nhất đan tâm".

Ông Trần Xuân Bách (1924-2006), nguyên ủy viên BCT, chủ trương dân chủ hóa VN cùng nhịp với Đông Âu và Liên Xô, tác giả phương ngôn nổi danh: "Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng… Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát - do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đại...".

Ông Nguyễn Ngọc Lan (1930-2007), nguyên chủ bút báo Đối Diện, bị quản chế cùng linh mục Chân Tín vì đã chủ trương Cá nhân sám hối/Giáo hội sám hối/Đảng phải sám hối, từng bị nhà nước ép té xe cùng với LM Chân Tín khi đi dự đám tang ông Bảy Trấn.

Ông Hoàng Minh Chính (1920-2008), nguyên Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, từng nhận định chính xác "Đất nước ta đứng ở đáy nhân loại trên mọi bình diện" (2005), rồi quyết định phục hoạt đảng Dân Chủ VN, và cùng với ông Lê Hồng Hà kêu gọi thành lập Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng.

Ông Nguyễn Hộ (1916-2009), lãnh đạo Hội Những Người Kháng Chiến Cũ, tác giả quyển Quan Điểm và Cuộc Sống, giải thưởng Hellman-Hammett, từng bị ép xuồng, bị bắt giữ và bị quản thúc tại gia cho tới chết.
V.v…

Những di thư, di cảo, di ngôn tâm huyết của họ vẫn còn đó và còn nguyên giá trị lịch sử lẫn thời sự. Rõ ràng, chết chưa hẳn là hết. Lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN hiện giờ chỉ xoa bụng/vỗ tay/nâng cốc có mỗi điều về đối thủ: Chết là hết …nói!

Lãnh đạo đương thời cũng chẳng màng che giấu nỗi mong mỏi/chờ trông từng ngày điều đó xảy ra cho những đồng chí khai quốc công thần lòng ngay mắt sáng/trung ngôn nghịch nhĩ/thẳng lời phản biện/nói thật nói hết: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Minh Cần… cùng rất đông quý vị lão thành cách mạng, thậm chí, cả quý vị nhân sĩ Dương Danh Di, Trần Phương, Vũ Khoan, Nguyễn Văn An, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Nguyễn Minh Thuyết, Phạm Chi Lan, Phan Đình Diệu v.v…

Ở một tầng nấc khác, cả trong và ngoài đảng, cả trong và ngoài nước, cả trong và ngoài tù, là một danh sách "đáng chết" rất dài, không thể kể hết danh tánh, của những người từng có tiểu luận/khảo cứu/phản biện/phân tích/bình luận/đề nghị/cảnh báo/tuyển tập... không thể đăng trên dàn báo chính quy xưa nay (nên thường phải lập riêng thư viện/thư khố trên không gian mạng), và gần đây là những tay dân báo mạnh dạn gõ phím và chuyển tải tất cả những điều mắt thấy/tai nghe/óc nghĩ… thông qua hệ internet và ung dung chiếm lĩnh đại khối độc giả có điều kiện ngồi trước màn hình ở VN. Đáng "chết để hết nói" là vì vậy!

Tự thân đảng không muốn làm kẻ thù của internet như RSF tố giác. Tự thân internet và các dàn mạng xã hội đã đứng về phía Sự Thật và trở thành kẻ thù của đảng đó chứ!

Mà đã thế thì những danh sách "đáng chết" nói trên đã trở thành vô dụng, bởi đảng không thể trông chờ mãi vào cứu cánh "chết là hết" của đối kháng, mà ngược lại, chính sự trông chờ đó đã lột trần tình trạng "kiệt mưu/cạn chước/đuối lý/hết thời" của nguyên dàn lãnh đạo đảng đương nhiệm.
*
"Tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt" 
- Hồ Chí Minh

Câu hỏi thứ hai được đặt ra là: Trên thực tế, chết có yên chuyệnkhông?

Hội nghị Việt Bắc 1949 từng ghi lại lời khẳng định/trần tình của đồng chí Hồ Chí Minh (cũng kính mến không kém) rằng: "Các vị lãnh tụ thế giới Staline, Mao Trạch Đông thì không thể sai lầm, nghĩa là những gì cần nói và đáng nói họ đã nói hết rồi và nói đúng, thì mình còn gì nữa, nhất là điều mình nói có thể sai".

Ngoại trừ cái chỉ thị đóng khung trên đây là …cấm sai. Và trở thành kim chỉ nam của lực lượng công an  "còn Đảng còn mình" :

21/1/2010: công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đánh chết công dân Nguyễn Quốc Bảo.

29/3/2010: công an huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, giả dạng đầu gấu, đánh dân oan đến nhập viện.

04/5/2010: công an Đà Nẵng cướp quan tài ở Cồn Dầu, đánh chết công dân Nguyễn Thành Năm, cho dù vợ con nạn nhân đã quỳ lạy xin tha mạng.

07/5/2010: công an Điện Bàn, Quảng Nam đánh chết công dân Võ Văn Khánh rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng dây cột giày.

14/5/2010: công an huyện Chương Mỹ, Hà Hội, chận xe, đòi hối lộ, chưa được thì đánh công dân Tống Bá Đức bằng dùi cui và còng số 8, cho tới khi nạn nhân cầm xe máy cho 1 CA khác để nộp tiền hối lộ.

25/5/2010: công an huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, bắn thủng bàn tay trái của công dân Lê Thị Thanh, bắn chết công dân thiếu niên Lê Xuân Dũng, và bắn chết công dân Lê Hữu Nam ở Nghi Sơn.

28/6/2010: công an huyện Đại Từ, Thái Nguyên, đánh chết công dân Vũ Văn Hiền.

23/7/2010: thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp, huyện Tân Yên, Bắc Giang, đánh chết công dân Nguyễn Văn Khương về tội không đội mũ bảo hiểm.

06/8/2010: công an thường phục Thái Nguyên bắn thủng đùi xuyên xương chậu công dân Hoàng Thị Trà, về tội không đội mũ bảo hiểm.

14/8/2010: công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang, đánh chết công dân Trần Duy Hải rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng áo sơ mi tay dài.

09/9/2010: công an xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, Đồng Nai, đánh chết công dân Trần Ngọc Đường rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng dây thắt lưng.

16/9/2010: công an Hà Tĩnh đánh hội đồng công dân Đặng Đình Việt bằng gậy, phải nhập viện, cho tới khi rất đông người đi đường đến can mới bỏ đi.

06/11/2010: công an xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đánh công dân Lưu Đình Tăng đến phải nhập viện.

24/11/2010: công an xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, Thái Nguyên, bóp cổ và đánh công dân thiếu niên Dương Đình Hiếu bằng dùi cui đến ngất xỉu, xong bắt thân nhân đến ký giấy xác nhận tình trạng sức khỏe bình thường trước khi đón cháu Hiếu về nhà.

17/12/2010: công an phường Mỹ Bình, Long Xuyên, đánh chết công dân Đặng Văn Đen.

19/12/2010: công an phường Quán Trữ, Hải Phòng, đạp ngã xe để bắt giữ người đi xe máy ngồi sau không đội mũ bảo hiểm, gây trọng thương cho cả hai nạn nhân rồi tìm cách xóa dấu vết hiện trường.

28/12/2010: công an xã La Phù, Hoài Đức, Hà Tây, đánh hội đồng đến gãy xương sườn công dân Phạm Quang Sơn, mặc cho người thân quỳ lạy xin tha, sau đó, phó công an xã kéo côn đồ về bao vây và đòi giết cả nhà và đốt nhà nạn nhân.

11/1/2011: công an huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, đánh gãy tay công dân Ngô Thị Thu trong lúc biểu tình tố cáo nhà máy nhả khói độc, lại còn tuyên bố rằng nạn nhân chưa chết đâu mà lo.

01/3/2011: công an phường Nghi Tân, Cửa Lò, Nghệ An, đánh hội đồng công dân Nguyễn Văn Hướng bằng dùi cui đến tét đầu, về tội không đội mũ bảo hiểm.

02/3/2011: trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, phường Thịnh Liệt, Hà Nội, đánh công dân Trịnh Xuân Tùng gãy 2 đốt sống cổ, gây liệt tứ chi và hệ thống hô hấp, dẫn đến tử vong, về tội đi xe ôm mà dừng lại tháo mũ bảo hiểm ra để nghe điện thoại.

23/3/2011: thiếu tá công an Bùi Minh Thắng, phó trưởng phòng CSGT Hậu Giang (con của giám đốc CA tỉnh Hậu Giang), đánh công dân Đỗ Quốc Thái bằng dây thắt lưng đến nhập viện, khi nạn nhân không chịu lái xe taxi vượt đèn đỏ như Thắng yêu cầu. Chi được đưa về trạm CSGT Cửa Ô, Thắng còn buộc đồng nghiệp ở đây phải quỳ lạy, :không tao bắn!".


Sự liên hệ hữu cơ xâu chuỗi của hàng loạt án mạng tàn độc/thảm thiết kể trên không khỏi khiến dư luận nhiều nguồn rút ra một kết luận khách quan khó cãi: Tử thần đã chính thức nhập tịch và đang mang hộ chiếu VN.

Trong tất cả các vụ công an đánh/giết người vừa kể, chỉ có độc nhất vụ thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp bị truy tố ra tòa, lãnh án 7 năm tù giam.

Trong tất cả những công an từng đánh/giết người kể trên, cũng chỉ độc nhất thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp là có được sự bảo vệ tương đối khá hơn cả, nhờ lọt vào bên trong hệ thống trại giam. Đa phần những kẻ còn lại bên ngoài đang sinh hoạt trong sự sợ hãi thường trực, sau những vụ nhân dân bất bình bao vây hiện trường; mang xác nạn nhân đến triển lãm tại trụ sở CA; biểu tình đòi làm sáng tỏ vụ việc; hoặc, phá tan cổng UBND tỉnh (trường hợp Bắc Giang).

Tức là, so với sự trông đợi của đảng và nhà mước mong giới đối kháng "chết cho yên chuyện", thì ngược lại, khi nhân dân VN bị hành hung dưới tay tử thần công an VN đã trở thành những cái "chết gây lớn chuyện" rất đáng lo ngại.

Chứng cớ là nhà nước bịt kín/bẻ cong tin tức về cuộc tự thiêu của KS Phạm Thành Sơn ngay trước UBND thành phố Đà Nẵng ngày 17/2/2011 vừa qua.

Chứng cớ nữa là nhà nước đã phải hoàn tất khám nghiệm thi thể nạn nhân Trịnh Xuân Tùng sớm hơn dự định 1 ngày, đồng thời, dời vụ xét xử TS Cù Huy Hà Vũ trễ lại 10 ngày, tránh sự trùng hợp cả 2 sự kiện có tính "ngòi nổ" này vào cùng ngày 24/3/2011.

Rõ ràng là nhà cầm quyền Hà Nội biết sợ hương hoa nhài tỏa ngát từ Trung Đông/Bắc Phi và cái lò năng lượng hạt nhân căm phẫn của nhân dân VN đang chực nổ dưới những nhát chém của lưỡi hái tử thần công an hiện nay. Vì sao?

Vì đảng và nhà nước đã hiển thị đậm nét tình trạng thiểu năng/kém trí/vi luật/kiệt ngân/cạn lý/hết thời… ngược chiều với tình hình cập nhật về kỹ năng đấu tranh bất bạo động của nhiều người nhiều giới đang biến dần những quan tâm thành hành động.

Vì nhân dân đã vượt qua tâm lý mackeno cùng nỗi sợ, đã thao dượt đối đầu với nhà cầm quyền ở tầng địa phương, đang chờ đợi một ngòi dẫn nhạy lửa, và sẵn sàng cho một cuộc tập họp tại thủ đô có tầm vóc và hiệu quả như ở Tunis hồi đầu năm nay.

Vì, bên dưới tình trạng các chủ tịch tỉnh thường xuyên bất chấp lệnh chính phủ, các hiện tượng công an cấp xã có toàn quyền sinh sát và tùy tiện sử dụng quyền này chính là chỉ dấu rõ nhất của một hệ thống quyền lực đứt rời từ trung ương xuống tới địa phương.

Vì dàn thông tin 4T chính quy ở đây đã chính thức quy hàng hệ truyền thông dân báo ung dung lấn lướt ở mức áp đảo trên từng bảng pageviews, và với nội dung xây dựng mạng sinh hoạt xã hội dân sự làm nền cho việc huy độngsức mạnh quần chúng.

Vì mối liên kết giữa giới bloggers ở đây tiến đến những quy ước bất thành văn về phong trào quật ngược cán cân nạn nhân-hung thủ: Đẩy mạnh việc thu thập chứng cứ tham nhũng/lạm quyền/gian dối/tàn ác/phạm tội của dàn quan chức các cấp.

Vì, quan trọng hơn cả, là xóa tan mọi nỗi nhục VN hôm nay, để những thế hệ người Việt sắp tới được hãnh diện sống trong một đất nước tung cánh và một nền văn hóa nhân bản, không một ai bị tiêu diệt vì không đi cùng đường vạch ra bởi kẻ khác.

Và vì, nếu thật sự cái chết (như Mohamed Bouazizi) là giải pháp (châm ngòi) để dân chủ hóa VN thoát khỏi mọi hình thái độc tài, cộng sản lẫn không cộng sản, thì cũng đáng chọn lắm thay.

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.


(Nguyễn An Ninh)


Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.


(Sào Nam Phan Bội Châu)


Đinh Tấn Lực

24-03-2011 - Kỷ niệm 85 năm đám tang Cụ Phan Chu Trinh & Kính điếu các nạn nhân của Tử Thần CAVN.



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/03/24

Dân Số Thế Giới Tiếp Tục Gia Tăng 50 Triệu Người Mỗi Năm

Dân Số Thế Giới Tiếp Tục Gia Tăng 50 Triệu Người Mỗi Năm

Nguyễn Quốc Khải

Dân số thế giới gia tăng rất chậm kể từ khi trái đất mới khai thiên lập địa. Phải mất 250,000 năm, dân số nhân loại mới đạt được mức 1 tỉ người vào khoảng đầu thế kỷ 19, khi tế bào trứng của con người được khám phá. Hơn một thế kỷ sau đó, vào khoảng 1930, nhân số tăng gấp đôi lên tới 2 tỉ. Kể từ đó đến nay, dân số tăng nhanh chóng một cách không ai có thể ngờ được. Chỉ cần khoảng 30 năm, dân số nhân loại tăng thêm 1 tỉ từ 2 tỉ lên tới 3 tỉ vào năm 1960. Tỉ thứ tư chỉ cần 14 năm và tỉ thứ năm và thứ sáu chỉ cần 13 năm và 12 năm. Sự gia tăng dân số thật là khủng khiếp nếu đà này tiếp tục. May thay, tốc độ tăng trưởng nhân số đã ở điểm cao nhất và bắt đầu chậm lại. Vào năm nay, tức là cũng sau 12 năm trái đất sẽ có thêm 1 tỉ người nữa để đạt tới mức 7 tỉ, theo ước tính của Cơ Quan Dân Số của Liên Hiệp Quốc. Dân số thế giới sẽ còn tiếp tục gia tăng ít nhất trong vài thập niên tới, nhưng tốc độ tăng trưởng tiếp tục giảm dần.


Hình (J.K. Johnson): Tình trạng đông dân tại Saigon
cũng như tại Hà Nội gây ra cảnh kẹt xe thường xuyên.

Hai quả bom dân số

Kinh tế gia người Anh Thomas Malthus vào năm 1798 đã nhận định rằng nhân số sẽ gia tăng nhanh hơn là mức sản xuất thực phẩm, cho đến khi chiến tranh, bệnh tật, và nạn đói làm giảm số người. Quả thật là những bệnh dịch lớn đã giết chết nhiều người trước khi Malthus ra đời. Bệnh dịch (black death) lan tràn ở Âu châu trong các năm 1347-1349 đã giết chết ít nhất 1/4 dân số Âu châu.

Trong hai thế kỷ kế tiếp, sau khi Malthus tuyên bố nhân số thế giới không thể tiếp tục tăng, thực tế đã cho thấy một tình trạng trái ngược: dân số thế giới tiếp tục tăng. Sự bành trướng trồng những cây thực phẩm mới như bắp và khoai, cùng với việc khám phá ra phân hóa học đã giúp chặn đứng nạn đói ở Âu châu. Kể từ giữa thế kỷ 19, việc thiết lập hệ thống cống rãnh và cải thiện vệ sinh đã làm giảm bệnh dịch tả (cholera) và thương hàn (thyphus). Cũng vào thời Malthus, khoa học gia Edward Jenner đã bào chế loại vac-xin (thuốc chủng) đầu tiên để chữa bệnh đậu mùa (smallpox). Sau đó nhiều thuốc chủng khác và thuốc trụ sinh ra đời như Penicillin. Thuốc DDT diệt muỗi truyền bệnh sốt rét. Sự tiến bộ của ngành y khoa, cùng với phương pháp dinh dưỡng tốt đã giúp con người sống lâu hơn. Tuổi thọ trung bình tại những nước kỹ nghệ hóa từ 35 năm đã tăng lên đến 77 năm hiện nay. Tuổi thọ của Ấn Độ cũng đã tăng từ 38 năm vào năm 1952 lên đến 64 ngày nay. Tại Trung công , con số này đã tăng từ 41 đến 73. Không những con người sống lâu hơn, mà số đàn bà ở trong tuổi sanh con lên đến 1.8 tỉ, mặc dù mỗi đàn bà sanh ít con hơn so với một thế hệ trước.


Hình (Corbis): Trẻ em sơ sinh tại bệnh viện.

Nhà sinh học Hoa Kỳ Paul Ehrich của Standford University xuất bản cuốn sách "Population Bomb" vào năm 1968. Ông tiên đoán rằng hằng trăm triệu người sẽ chết đói và đã quá trễ để có thể làm được gì để cứu vãn tình trạng này. Bệnh ung thư nhân số gia tăng cần phải cắt giảm bằng cách bắt buộc nếu những phương pháp tình nguyện thất bại. Cuốn sách "Population Bomb" của thế kỷ 20 đã làm ông Paul Ehrich nổi tiếng y như cuốn sách "An Essay on the Principle of Population" của ông Thomas Malthus xuất bản vào cuối thế kỷ 18.

Lần này cũng vậy, trái bom dân số đã không nổ. Cuộc cách mạng xanh đã giúp mức sản xuất thực phẩm gia tăng mạnh mẽ nhờ vào sự phát minh các loại hạt giống có năng suất cao như lúa Thần Nông, phương pháp dẫn nước, phân hóa học, và thuốc diệt trừ sâu bọ và bệnh thảo mộc. Ngày nay, vẫn còn có nhiều người thiếu dinh dưỡng nhưng nạn chết đói hàng loạt rất hiếm hoi, ngoại trừ do "nhân tạo" như nạn đói năm Ất Dậu tại Việt Nam do chính quyền Nhật gây ra, tại Ukraine vào năm 1932-1933 do chính sách sản xuất tập thể cưỡng bức dưới thời Joseph Stalin, và nạn đói tại Trung công vào những năm 1958-1961 do chính sách Nhẩy Vọt và sản xuất tập thể của Mao Trạch Đông.

Hạn chế sinh sản

Vào thế kỷ 18 tại Âu châu và đầu thế kỷ 20 tại Á châu, một người đàn bà trung bình sanh 6 đứa con để giữ cho nhân số không thay đổi vì phần lớn những đứa trẻ chết trước khi đến tuổi trưởng thành. Tỉ lệ sanh sản này đã giảm xuống còn 4.8 vào năm 1965-70 và 2.6 vào năm 2005-10.

Ngày nay tại những nước phát triển, tỉ lệ sanh sản để giữ quân bình về nhân số là 2.1 cho mỗi phụ nữ tại những nước đã phát triển và tỉ lệ này cao hơn tại những quốc gia đang mở mang. Một điều quan trọng không ai tiên đoán được là vào đầu thập niên 1970s, tỉ lệ sanh sản trên thế giới đã bắt đầu thuyên giảm mạnh chưa từng thấy. Do đó mức tăng trưởng dân số đã giảm trên 40%.

Phụ nữ Pháp tiên phong trong việc giảm sanh đẻ bắt đầu từ thế kỷ 18. Sau đó cả Âu châu và Hoa Kỳ theo gương phụ nữ Pháp. Vào cuối thập niên 1990s, tỉ lệ sanh sản tại Âu châu là 1.4. Tại Trung công với một dân số bằng 1/5 dân số thế giới, mặc dù dân số tiếp tục tăng, nhưng tỉ lệ sanh sản đã giảm xuống còn 1.5 dưới mức thay thế trong khoảng 20 năm vừa qua do chính sách bắt buộc một con bắt đầu từ năm 1979. Tỉ lệ sanh sản cao hiện nay chỉ tồn tại ở Phi Châu. Tuy nhiên nhân số Phi Châu chỉ chiếm 16% nhân số toàn cầu.

Vào năm 1952, chỉ vài năm sau dành được độc lập, Ấn Độ đã bắt đầu thi hành chánh sách hạn chế sanh đẻ để giảm bớt việc gia tăng dân số. Mục tiêu của chánh sách này là Ấn Độ cần đạt được tỉ lệ thay thế dân số 2.1 vào năm 2010. Điều này đã không xẩy ra và còn cần thêm một thập niên nữa. Hiện nay tỉ lệ này là 2.6. Theo một ước tính, dân số Ấn Độ sẽ nhiều hơn dân số của Trung công vào năm 2030 và lên quá 1.6 tỉ vào năm 2050. Phương pháp hạn chế sanh đẻ chánh ở Ấn Độ là triệt tiêu khả năng sanh sản (sterilization) của đàn bà và cả đàn ông. Phương cách thắt ống dẫn tinh trùng (noscalpel vasectomy) ở đàn ông giản dị và ít tốn kém hơn là cách cột buồng trứng (tubal ligation) ở đàn bà.

Dân số Việt Nam

Theo cuộc kiểm tra thực hiện vào 01-04-1999, dân số Việt Nam là khoảng trên 76 triệu. Từ năm 1979 đến 1999 dân số gia tăng 24 triệu. Mặc dù dân số gia tăng, nhưng tốc độ gia tăng dân số đã giảm. Trong khoảng thời gian 1979-1989 mức gia tăng là 22.7% và trong 1989-1999 là 18.5%. Trung bình mức tăng trưởng hàng năm là khoảng 2% vào đầu thập niên 1990s và 1.4% vào cuối thập niên này.

Việt Nam áp dụng chính sách hai con bắt đầu từ năm 1993 để kiểm soát nhân số đã giúp cho mức tăng trưởng dân số tiếp tục giảm xuống còn 1.3% vào năm 2004 và 1.096% vào năm 2010. Tỉ lệ sanh sản giảm từ 3.8 vào năm 1989 xuống còn 1.93 vào năm 2010. Tuy nhiên dân số Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng vào khoảng 1 triệu mỗi năm. Dân số của Việt Nam vào năm 2010 là 89,571,130. Vì áp lực quốc tế, Việt Nam đã hủy bỏ chính sách 2 con vào năm 2003 vì tính cách cưỡng bức và thay thế bằng chánh sách khuyến khích gia đình nhỏ.

Hình thức cưỡng bức của chính sách hai con bao gồm việc trục xuất người vi phạm ra khỏi Đảng CSVN nếu là đảng viên, cha mẹ phải trả tiền sức khỏe và học phí cho đứa con thứ ba, và nhân viên chánh phủ sẽ bị kỷ luật. Một biện phát trừng phạt nặng là tịch thu đất. Tuy nhiên, biện pháp trừng phạt không được áp dụng trên toàn quốc và tùy thuộc vào quyết định của các viên chức địa phương. Rút kinh nghiệm của Trung công , Việt Nam đã không áp dụng chính sách một con để tránh sự mất quân bình giữa hai phái nam và nữ.

Hàng năm con số phá thai chính thức được ghi nhận là 900,000 trường hợp. Thực tế con số phá thai có thể cao hơn. Phá thai là một phương pháp hạn chế dân số ở Việt Nam và giúp cha mẹ có lối thoát trong việc chọn con trai hay con gái. Cũng như ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung công , cha mẹ Việt Nam có khuynh hướng trọng con trai. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trung bình một phụ nữ Việt Nam trải qua ba lần phá thai trong đời để theo chính sách hai con. Mặc dù chính sách này không khắt khe như ở Trung công , nhưng cũng đã tạo ra tình trạng bất thăng bằng về nhân chủng. Ở Việt Nam tỉ lệ con trai so với con gái là 112/100.

Kết luận

Nhờ những phương pháp kiểm soát dân số và tiến bộ về khoa học, sự gia tăng nhân số thế giới đã chậm lại và hai quả bom dân số đã không nổ. Nhân loại cần 13 - 14 năm nửa để đạt được 8 tỉ, và 20 – 25 năm sau đó để đạt 9 tỉ, tức là vào khoảng 2045 - 50. Trung bình mỗi năm dân số thế giới sẽ gia tăng 50 triệu người cho đến giữa thế kỷ 21. Vào lúc đó, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân số thế giới sẽ ổn định và sẽ không gia tăng nữa.

Ưu tiên quan trọng hiện nay đối với thế giới không còn là vấn đề đông dân, mà là nạn nghèo đói, thiếu hạ tầng cơ sở và môi trường nhiễm độc. Thực phẩm sẽ không thiếu nhưng sự phân phối vẫn là một thử thách lớn lao.


Tài liệu tham khảo:

Paul Ehrich, "The Population Bomb", Cuthogue, New York,: Bucaneer, 1971.
Robert Kunzig, "Population 7 Billion," National Geographic, January 2011, Vol. 219, No. 1.
John Parker, "Another Year, Another Billion," The World in 2011, The Economist, December 2010.
Eye Witness, "The Black Death 1348," www.eyewitnesstohistory.com, 2001.
WorldWatch Institute, "Vietnam May Revisit Two Child Population Policy," January 5, 2009. Owen Bennett-Jones, "Vietnam's Two-Child Policy," BBC News, November 8, 2000.
The Gardian, "Vietnam a development success story?", December 23, 2010.
Thuy Hang, "Vietnam's population tops 85 million," Vietnews, August 15, 2009.
Carl Haub and Phuong Thi Thu Huong "An Overview of Population and Development in Vietnam," Population Reference Bureau and the National Committee for Population and Family Planning, February 2003.


http://bit.ly/fPJmMt



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/03/23

Lối thoát nào cho thế giới nhiễu nhương và một Việt Nam đau khổ?

Lối thoát nào cho thế giới nhiễu nhương
và một Việt Nam đau khổ?

Lê Lão Trượng


Lịch sử nhân loại là những trang đẫm đầy máu và nước mắt. Máu và nước mắt luôn là phó sản của sự đau khổ mất mát khi con người bị tước đoạt quyền sống và hạnh phúc.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, Liên Hiệp Quốc được thành lập như một định chế để ngăn ngừa xung đột giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, giữa các cộng đồng… nhằm duy trì hòa bình trên thế giới, nói chung là vì mục đích gìn giữ hạnh phúc cho nhân loại. Nhưng trên thực tế, từ đó cho đến nay thế giới vẫn chưa có một ngày im tiếng súng, máu vẫn đổ và nước mắt vẫn tuôn tràn trên khuôn mặt của những số phận bất hạnh, không chỉ trong bóng tối mờ ám của tù ngục mà còn ngang nhiên giữa ánh sáng mặt trời.

Xét trên thực tế, từ ngày ra đời cho đến nay, Liên Hiệp Quốc cũng đã ngăn chặn hoặc dập tắt được một số những cuộc xung đột giữa một số quốc gia, và cũng chỉ có thế, sự đau khổ của nhân loại có vẻ như không giảm đi mà càng ngày càng gia tăng trong đủ loại hình thái tinh vi hơn. Từ sau cuộc Thế Chiến II đến nay, các chế độ thực dân lần lượt sụp đổ, hầu như không một chính quyền hoặc dân tộc nào dám xua quân xâm chiếm một quốc gia khác để dựng lên một chế độ thực dân đối với dân tộc khác (ngoại trừ trường hợp của bạo chúa Iraq: Saddam Hussein). Chế độ thực dân cổ lổ trong đó dân tộc này bóc lột dân tộc kia đã cáo chung, nhưng một hình thái thực dân bóc lột mới lại nảy sinh và càng ngày càng bộc phát mạnh: những chế độ thực dân nội địa trong đó một thiểu số cầm quyền cai trị bóc lột chính nhân dân mình và cướp đoạt tài nguyên đất nước mình. Nghĩa là chế độ con người bóc lột con người, vi phạm nghiêm trọng tuyên ngôn nhân quyền do chính Liên Hiệp Quốc đề ra, và Liên Hiệp Quốc cũng đành bó tay… đứng nhìn. Ngoài Liên Hiệp Quốc với Tuyên Ngôn Nhân Quyền còn có Tòa Án Công Lý Quốc Tế và Tòa Hình Sự Quốc Tế, Tuyên Ngôn về Trách Nhiệm Bảo Vệ, hàng trăm tổ chức nhân quyền khác như: Human Rights Watch, Amnesty International, Free House, Committee to Protect Journalists, Reporters without Borders, v…v… Tóm lại, hàng trăm định chế và tổ chức loại này đã được thiết lập hoặc được các quốc gia ký kết để rồi… bó-tay.com!

Lương tâm nhân loại quả có lao xao nhưng chẳng làm gì được với những chế độc độc tài hoặc côn đồ đang trắng trợn chà đạp quyền làm người, bóc lột chính nhân dân và đất nước của họ, gây bất ổn cho cuộc sống nhân loại trên toàn thế giới. Những con người có lương tri biết làm gì ngoài việc cảm nhận sự đau khổ của đồng loại (và của chính mình) trong một tâm trạng bất lực? Những câu hỏi chúng ta có thể đặt ra ở đây là: Do đâu mà các chế độ độc tài côn đồ vẫn cứ nảy nòi và tồn tại trong thế giới ngày nay? Cộng đồng nhân loại có phương cách nào để dẹp bỏ những chế độ phi nhân đang đi ngược xu hướng chung tìm đến tự do và bình đẳng cho mỗi công dân của Trái Đất? Làm thế nào để dẹp bỏ những chính quyền độc tài của những quái vật thời hiện đại như Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên, Than Suê của Miến Điện, "đại tá" Muammar Gaddafi của Lybia, "thằng hề" Hugo Chavez của Venezuela … và nhất là chế độc độc tài toàn trị phi nhân của đảng cộng sản đang đè đâu cưỡi cổ nhân dân chúng ta từ 80 năm nay?

Để trả lời cho những câu hỏi (đồng thời là khát vọng của lương tri nhân loại) trên, trước tiên có lẽ chúng ta phải đi tìm những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại của các chế độ phi lý trên. Có nhiều nguyên nhân, nhưng theo chủ quan của người viết, sau đây là các nguyên nhân chủ yếu:

1. Lòng tham mù quáng hoặc ảo tưởng điên cuồng của con người. Con người cụ thể ở đây là giai tầng lãnh đạo mà mãnh lực của đồng tiền và quyền lực đã biến họ thành những quái thú, nô lệ của đồng tiền và danh vọng. Và hầu như chẳng có lòng tham nào là có đáy.

2. Sự xuất hiện của chủ thuyết cộng sản trong thế kỷ 19, dẫn đến sự tồn tại của các quốc gia cộng sản với cuộc Chiến Tranh Lạnh trong thế kỷ 20. Sự việc Liên Xô – thành trì của thế giới cộng sản và các quốc gia độc tài cộng sản đã đổ sụp vào cuối thế kỷ 20, chứng tỏ sự sai lầm của chủ thuyết này. Tàn dư của nó vẫn còn rơi rớt đến nay là 4 quốc gia cộng sản do "đại ca" Trung Cộng đứng đầu với hai tên đàn em trung kiên là Bắc Triều Tiên và Việt Nam ở châu Á, bên kia Tây Bán Cầu là nhân dân đất nước Cuba xinh đẹp đã rên siết hơn 50 năm dưới bàn tay sắt đầy máu của anh em nhà Castro.

3. Chính sách thiển cận của một số chính quyền Hoa Kỳ và phương Tây. Với bề dày truyền thống xã hội dân chủ của mình, một số chính quyền của Hoa Kỳ và phương Tây thay vì chọn đứng về xu hướng tiến bộ chung của nhân loại – nhưng vì ích lợi cục bộ quốc gia hoặc bị chi phối bởi các tập đoàn tư bản đa quốc gia – nên đã đứng về phe của các giai tầng thiểu số cầm quyền phản động. Thay vì đóng vai trò lãnh đạo, theo qui luật tự nhiên, dẫn dắt thế giới tiến đến cuộc sống bình an tốt đẹp hơn, Hoa Kỳ và phương Tây nhiều lúc đã đóng vai trò con buôn ích kỷ, điều này càng làm cho thế giới càng bất bình và bất ổn hơn bởi sự nảy nòi và thách thức của những lực lượng đề kháng cực đoan vô trách nhiệm với sự tồn tại của nhân loại: Al-Qaeda và sự lớn mạnh của đất nước độc tài cộng sản Trung Quốc.

4. Sự lớn mạnh của Trung Quốc. Dưới bàn tay cai trị của đảng cộng sản TQ và tầng lớp thống trị mang dòng máu Hán tộc, bản chất gian manh và chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bá chủ thế giới, đất nước độc tài toàn trị Trung Cộng đã thực sự trở thành mối đe dọa cho thế giới và nhân loại (và cả đại khối nhân dân Trung Hoa với chính sách bóc lột của chế độ thực dân nội địa: đại đa số người dân bị bóc lột sức lao động nhưng vẫn sống trong nghèo khổ, hố cách biệt giàu nghèo trong xã hội quá lớn, đảng viên và chính quyền thì càng ngày càng giàu và toàn quyền sử dụng tài sản quốc gia – gần 3000 tỷ đô la thặng dư mậu dịch là kết quả của sự bóc lột sức lao động người dân và xâm hại môi trường sống được đem cho nước ngoài vay, tạo thanh thế chính trị và kinh tế nhằm duy trì quyền lực của đảng cộng sản chứ không phục vụ cho đời sống của nhân dân). Các chế độ độc tài quái đản từ Á sang Phi như Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Việt nam, Sudan, Congo, Zimbabwe… liệu tồn tại được bao lâu nếu không có sự chống lưng đỡ đầu của Trung Quốc? Và sau rốt, sự lớn mạnh của tên thực dân Trung Quốc phải chăng có trách nhiệm từ chính sách con buôn sai lầm của Hoa Kỳ, bắt đầu từ màn "ngoại giao bóng bàn" của cặp đôi Nixon – Kissinger năm 1972?

5. Sự bất lực của Liên Hiệp Quốc và các định chế quốc tế là một thực tế rõ ràng, với quy chế VETO (quyền phủ quyết) của những quốc gia thiếu trách nhiệm với sự bình yên của thế giới (nếu không nói là côn đồ) như Trung Quốc, đôi khi là Nga, đôi khi là các "con buôn" Mỹ, Anh, Pháp. Tuyên ngôn Nhân Quyền đã và đang bị các chính phủ thực dân nội địa vi phạm. Tuyên ngôn về Trách nhiệm Bảo vệ (R2P) cũng chưa một lần được thực thi để cứu vớt các dân tộc đang chết dần trong đau khổ, mất tự do. Tòa án Hình Sự quốc tế của LHQ cũng chưa xét xử trọn vẹn một phiên tòa nào đối với những tên bạo chúa đã và đang cầm quyền trên thế giới…!!!

Tóm lại, thế giới chúng ta đang sống là một thế giới nhiểu nhương và bế tắc, trong đó lương tâm nhân loại sẽ không ngơi dằn vặt khắc khoải bởi những đau khổ của đồng loại, của dân tộc và chính bản thân mình do sự bất lương và tàn ác của các chế độ độc tài. Trong đó, khổ đau của đại đa số người dân là hạnh phúc của bọn thiểu số cầm quyền vô lương.

Theo số liệu của Ts Nguyễn Hưng Quốc lấy từ tổ chức Free House hiện nay trên thế giới có 2,434 tỉ người sống dưới các chế độ độc tài; 60% số người ấy hiện đang sống ở TQ. Như vậy, cứ 10 người chịu đựng sự độc tài thì có 6 người đang sống ở TQ. 2,434 tỷ người tức là hơn 40% nhân loại đang sống trong khổ đau và rủi thay trong đó có gần 90 triệu dân Việt Nam chúng ta.

Chúng ta không có con số để so sánh tỷ lệ này với thời điểm các năm thập niên 1960, thời điểm cáo chung của các chế độ thực dân kiểu cũ, nhưng tôi tin rằng từ đó cho đến nay tỷ lệ con người sống dưới các chế độ độc tài đã tăng lên, số các quốc gia độc tài đã nảy sinh càng lúc càng nhiều hơn trong thế giới hiện đại, dưới những chiêu bài càng lúc càng tinh vi và dối trá tàn tệ hơn so với chủ nghĩa thực dân cũ. Nhân dân các nước thuộc địa cũ đã đấu tranh mong dành được độc lập cho đất nước và quyền làm người cho bản thân, nhưng sau đó hầu hết lại lọt vào một loại xiềng xích nô lệ mới: các chế độ độc tài gỉa danh dân chủ hoặc các chế độ cộng sản sắt máu. Con số 2,434 tỷ người (40% nhân loại) đang sống mất tự do, nhân phẩm bị chà đạp, bị súc vật hóa… nói lên điều gì? – Con người đang biến trái đất này, ngôi nhà ở duy nhất trong vũ trụ của mình thành một nơi dung dưỡng tội ác, bất ổn đầy hiểm nguy và đau khổ. Số 60% nhân loại còn lại có thể làm gì để đấu tranh chống lại cái ác đó?

– Rõ ràng là sự bất lực của các định chế quốc tế. Không ai có thể làm gì trước sự lộng hành của một nhóm cướp biển Somalia, không một chế tài nào có thể ngăn được những hành động điên rồ hoặc quái ác của các bạo chúa tân thời như: Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên, Mahmoud Ahmadinejad của Iran, tập đoàn quân phiệt Miến Điện, Hassan Al-Basir của Sudan, bàn tay sắt máu của các chế độ cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam. Phải chăng lương tâm nhân loại là một thứ hàng xa xỉ, lịch sử nhân loại đã bỏ qua những tội ác tày trời của các bạo chúa đương đại: hàng chục triệu người Nga chết dưới bàn tay Stalin, hàng chục triệu con dân Trung Hoa có lẽ vẫn đang ngậm hờn trong mộ phần của họ vì những ảo tưởng ngông cuồng và ác tâm của người cầm lái vĩ đại Mao Trạch Đông, mấy chục triệu dân Bắc Triều Tiên vẫn đang sống kiếp sống súc vật từ hơn 60 năm nay, hàng tỷ người dân đang phải sống dưới mức chuẩn nghèo đói trong các quốc gia mà thiểu số cầm quyền đang tha hồ vùng vẫy bơi lội trong những thú vui xa hoa lãng phí mà mức độ vô luân còn hơn thời Trung Cổ… Những thí dụ kể trên phải chăng không là tội ác đối với nhân loại? Bao giờ thì những tên bạo chúa trên mới được đem ra xét xử trước tòa án công lý của nhân loại để trả lại sự bình đẳng cho những người đã bị bức hại đến chết và sau nữa, gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho những bạo chúa đang còn tại vị hay lăm le chực chờ ngoi lên những ngai vàng máu của chúng? Công lý? Bao giờ hoặc sẽ chẳng bao giờ đến với những cơ chế và định chế bị chi phối bởi lòng tham ích kỷ của thế giới hiện nay?

Trong tác phẩm "Cội nguồn của Chiến tranh", Ayn Rand đã lên tiếng phê phán từ những năm 60: "Chúng ta ca ngợi hòa bình, chúng ta chống lại việc dân tộc này sử dụng vũ lực chống lại dân tộc khác chứ không chống lại việc chính phủ của một nước sử dụng vũ lực nhằm chống lại các công dân của chính nó."  Dù vậy, từ đó cho đến nay thế giới vẫn bất lực, không có một quan điểm hợp lý và đúng đắn để từ đó hình thành được những định chế hữu hiệu trong công cuộc phòng ngừa và chống lại những chế độ bất lương và côn đồ trên thế giới.

Thế giới này và nhân loại sẽ đi về đâu và liệu bao giờ dân tộc và bao giờ đất nước Việt Nam chúng ta mới thoát khỏi cái kiếp nạn độc tài cộng sản này? Thú thực, có lúc người viết đã thốt lên câu hỏi trên với một tâm trạng bi quan rã rời. Nhưng những biến cố xảy ra mới đây tại Tunisia, Ai-cập, Lybia, Yemen… lại thắp lên trong chúng ta một ngọn lửa hy vọng: khát vọng tự do của con người là ngọn lửa thiêng ngàn đời bất diệt, phen này sẽ đốt cháy một lần cuối những chế độ độc tài vô lương trên thế giới để vĩnh viễn mang lại cho con người – sinh vật thiêng liêng của vũ trụ – cuộc sống bình đẳng, tự do và phẩm giá.

Sự nổi dậy của nhân dân các nước vùng Trung Đông dù ôn hòa và bất bạo động nhưng vẫn có chết chóc thương vong do đàn áp của các chính quyền độc tài, hàng trăm người bị chết và bị thương cho đến khi lật đổ được hai ông Vua Tổng Thống Ben Ali và Hosni Mubarak. Nhân dân các nước Lybia, Yemen, Bahrain, Iran, Algeria, Maroc… vẫn đang đổ máu, nhiều hay ít là do mức độ thức tỉnh của lực lượng an ninh và quân đội nước sở tại.

Dù ngọn lửa đấu tranh chống độc tài đang bùng cháy tại Trung Đông nhưng con đường đấu tranh chung của cả nhân loại không hề dễ dàng, nếu không nói là sẽ khó khăn hơn vì các chế độ độc tài khác (nhất là độc tài cộng sản ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam) có thời gian để rút kinh nghiệm đối phó với đám đông quần chúng nổi dậy. Vì vậy, việc đề ra những phương án đấu tranh là cần thiết và cần sự hợp sức của nhiều người nhiều tổ chức.

Mong các bạn tham gia đóng góp để hoàn thiện. Thí dụ, về mặt luật pháp quốc tế chúng ta sẽ đề ra những cải cách như sau đối với tổ chức Liên Hiệp Quốc:

1. Sửa đổi quyền phủ quyết (VETO) của 5 cường quốc thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An: Sự phủ quyết (đối với một vấn đề, hoặc nghị quyết nào đó) chỉ có giá trị khi có ít nhất 02 phiếu phủ quyết.

2. Thành lập Ủy Ban Giám Sát Bầu Cử (UBGSBC) độc lập, ngang hàng với Hội Đồng Bảo An, có nhiệm vụ giám sát tất cả các cuộc bầu cử của các quốc gia trên thế giới. Một số các điều khoản chi tiết về Luật Giám Sát Bầu Cử (bắt buộc tất cả các quốc gia thành viên LHQ phải ký kết) đề nghị như sau:

a) Các cuộc trưng cầu dân ý, bầu cử quốc hội hoặc lãnh đạo của các quốc gia bắt buộc phải tổ chức dưới sự giám sát quốc tế, cụ thể là Ủy ban Giám sát bầu cử của LHQ.

b) Những cuộc bầu cử không có sự giám sát quốc tế của UBGSBC sẽ không được công nhận, theo đó chính quyền được dựng lên bởi cuộc bầu cử này sẽ không được sự thừa nhận của quốc tế. Lãnh đạo chính quyền này, thân nhân cũng như bộ máy cầm quyền của họ sẽ bị xem là bất hợp pháp và sẽ bị những chế tài theo luật quốc tế (không được tham dự các hội nghị, tài sản bị phong tỏa, không được bất kỳ quốc gia chính danh nào đón tiếp, không được tham gia hoặc bị loại bỏ khỏi các tổ chức quốc tế v…v… cho đến khi – chậm nhất là 12 tháng sau – tổ chức lại các cuộc bầu cử có sự giám sát của UBGSBC quốc tế.)

c) Bất kỳ chính quyền lâm thời nào (do chính biến hoặc do quốc gia mới thành lập) buộc phải tổ chức bầu cử có sự giám sát của UBGSBC quốc tế để thành lập chính quyền dân sự chính thức và hợp pháp trong thời hạn chậm nhất là 18 tháng kể từ ngày chính quyền lâm thời được thành lập.


Cuối cùng, trở lại với tình hình thực tế của Việt Nam chúng ta.
Mặc dù trong lòng đang chứa chan hy vọng rằng "cuộc cách mạng hoa sen" của dân tộc chắc chắn sẽ phải xảy ra bởi cái ác không thể thắng cái thiện để cứ "đời đời quang vinh", nhưng trước mắt chúng tôi mong tất cả chúng ta mỗi người hãy dành một chút thời gian để suy nghĩ, để góp tay vào một việc cụ thể nào đó, chẳng hạn như bạn nếu có kỹ năng hoặc tay nghề, các bạn hãy thống nhất để tập trung sức mạnh và lập ra một trang "taychaybaucu" – tẩy chay bầu cử, mục đích để kêu gọi mọi người ký tên tẩy chay cuộc bầu cử cuội do cộng sản Việt Nam sắp tổ chức vào tháng Năm/ 2011 này. Và biết đâu, ngày đó chúng ta sẽ tập họp lại thay vì tiếp tục hèn nhát tham gia trò "đảng cử dân bầu" dối trá kia, chúng ta sẽ nổi lửa lên để đưa dân tộc và đất nước thoát khỏi kiếp nạn độc tài cộng sản và dã tâm xâm lược ngàn đời của lũ sài lang phương Bắc.


Lê Lão Trượng
Sài Gòn, tháng 02 – 2011

http://bit.ly/f0FJiQ



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.