*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2016/10/27

Không chỉ có Sài Gòn - Hà Nội mà cả nước đang hấp hối vì cá chết

Không chỉ có Sài Gòn - Hà Nội mà cả nước đang hấp hối vì cá chết

Mùa mưa tới, dân Sài Gòn và ngay cả dân Hà Nôi ngửi toàn mùi hôi thối, cá chết trắng khắp nơi từ miền Bắc đến miền Trung, miền Nam cũng được "hưởng" mùi hôi thối này. Chưa bao giờ người dân Việt Nam gặp cảnh khốn cùng đến như vậy. Các quan làm gì để cá chết, biển chết, dân cũng trắng tay chết mòn chết dần theo.

2/3 công chức ngồi chơi xơi nước
Bộ Nội Vụ tổ chức hội thảo ngày 12/10 vừa qua. Một lần nữa, con số 30% công chức "Sáng cắp ô đi, tối cắp về," "có cũng được mà không cũng được" lại được xới lên khá gay gắt tại Hội thảo khoa học "Bối cảnh và khả năng cải cách tiền lương."

Ông Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc Hội cho biết, nếu theo ước tính của các chuyên gia, có tới 30% công chức, viên chức không làm được việc, tương đương với 700,000 người, tiêu tốn 17 nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Tại hội thảo trên, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan kể rằng khi bà trao đổi với một vị Bộ trưởng (đã về hưu), ông đưa ra con số thực tế: Chỉ có 1/3 cán bộ công chức "làm hùng hục" không hết việc, 1/3 chỉ cản trở những người khác và 1/3 công chức còn lại là "ngồi chơi xơi nước."

Bà Lan nói, "Nếu như vậy, có đến 2/3 cán bộ công chức không làm việc thì làm sao đất nước phát triển được? Sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào."

Theo tính toán của ông Lợi, với con số 700 ngàn người "cắp ô," mỗi năm mất đứt 17 ngàn tỉ đồng, một con số khủng khiếp được chi tiêu lãng phí từ nguồn đóng thuế của người dân.

Tuy nhiên, số tiền trên ông Lợi nêu ra mới chỉ là "phần cứng," chưa tính tới hàng loạt các chi phí "mềm" khác như tiền nhà cửa, điện nước, văn phòng phẩm, ốm đau, ma chay… và một khoản tiền bảo hiểm khổng lồ được chi trả từ khi họ nghỉ hưu cho tới tận lúc chết.
Khu Phú Mỹ Hưng (quận 7) có mùi hôi thối trong không khí.
Người dân giật mình nay mới biết mình đóng sưu cao thuế nặng chỉ để cho một lũ quan ăn chơi đàn đúm, ăn cho mập vào để sách nhiễu nhân dân. Thủ tục "hành dân là chính" bao năm nay vẫn vậy, Quốc Hội và chính phủ bàn tới bàn lui, rồi để đấy có cải cách được gì đâu! Nói cho nhiều, mọi biện pháp đưa ra coi bộ "mạnh" lắm nhưng thực tế khác hẳn, nghị quyết cứ ra, chỉ thị vẫn đều đều như ngựa phi đường xa, chẳng bao giờ tới.

Bao năm nay rồi mỗi chuyện nước ngập cả đến khu chung cư cáo cấp Phú Mỹ Hưng được gọi là sang nhất Sài Gòn cũng khổ vì mùi hôi và nước ngập. Dân ở khu lao động còn khổ đến thế nào. Phẫn nộ vì mùi hôi từ bãi rác Đa Phước ảnh hưởng một cách nghiêm trọng tới cuộc sống, nhiều cư dân Nam Sài Gòn đã thành lập ban đại diện, tiến tới sẽ tiến hành các thủ tục khởi kiện chủ đầu tư bãi rác này, ông David Dương và công ty Xử Lý Chất Thải Việt Nam (VWS). Bà Nguyễn Thị Hồng Hà, cư dân Phú Mỹ Hưng, cũng là người có sáng kiến ghi nhật ký mùi hôi trên nhóm mở Facebook "Sự thật về mùi hôi thối ở Phú Mỹ Hưng" nói, "Cư dân có thể ghi hàng ngày, hàng giờ thậm chí cập nhật từng phút. Và mọi người cũng hiểu rằng mình đang sống trong môi trường quá ô nhiễm và độc hại."

Kiện thì cứ kiện biết bao giờ xử. Người dân cứ "an tâm, phấn khởi chờ đấy."

Cho đến nay người dân đã đứng lên tự bảo vệ mình
Hầu như ở khắp nơi những cuộc biểu tình tự phát rầm rộ khắp nơi. Đây là chuyện mới nhất người dân Vũng Tàu chở cá chết ra chặn quốc lộ.

Lúc 9 giờ sáng ngày 13/10 vừa qua, hàng chục người dân nuôi cá bè trên sông Chà Và (xã Long Sơn, TP Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu) dùng xe ba bánh chở cá chết ra quốc lộ 51, đoạn ngã ba Long Sơn, huyện Tân Thành để phản đối các công ty chế biến hải sản trên địa bàn gây ô nhiễm.

Từng người lôi từ 2 - 3 xác con cá bớp nặng hơn 5 kg dàn hàng ngang quốc lộ 51, khiến ôtô từ hướng Vũng Tàu đi TP Sài Gòn không di chuyển được. Cảnh sát giao thông phải hướng dẫn các xe rẽ vào các đường khác, tránh kẹt xe.

Theo các người dân, trong hai ngày qua, nước trên sông Chà Và có màu đen và mùi hôi, khiến cá nuôi bè của họ bị chết trắng, chủ yếu là cá bớp. Một người dân nói:
"Các cơ quan chức năng đã xác định 14 công ty là thủ phạm xả thải ra sông khiến cá chết nhưng đến nay, không những họ chưa bồi thường mà còn tiếp tục gây ô nhiễm. Vì nợ nần và đến đường cùng nên chúng tôi phải dùng cách này để cầu cứu."
Cá lồng chết loạt, người dân vớt lên bán đổ bán tháo.
Sự thật là trong năm 2015 xảy ra tình trạng cá chết trên sông Chà Và khiến người dân nuôi cá lao đao, các cơ quan chức năng đã xác định nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động xả thải của 14 doanh nghiệp (DN). Các DN bị buộc bồi thường cho người dân hơn 14 tỉ đồng. Tuy nhiên, các DN không đồng ý chi trả nên người dân đã kiện ra tòa. Cho đến nay, chỉ mới có 2 DN trong số này chấp nhận bồi thường cho người dân hơn 300 triệu đồng.

Một số người dân cho biết, nhiều bè cá trên sông nuôi các loại cá trắm, chép,... đều bị chung cảnh cá chết trắng nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Những bè cá này, chỉ còn thời gian ngắn nữa là thu hoạch được.
Bà Tư, một gia đình nuôi cá nước mặt ngắn dài cho biết, lúc trước nhập giống cá chép giòn của Bộ Nông Nghiệp với giá 160,000 đồng/kg mang về thả. Cá trong lồng nếu bán giá thịt thị trường khoảng 120.000 đồng/kg. Bà Tư xót xa, "Cá chết thế này, tôi thiệt hại tiền tỷ."

Theo người nuôi cá, 5 ngày trước, cá trong các bè có hiện tượng chết nhiều nên đã báo lực lượng chức năng. Trong thời gian chờ kết quả xét nghiệm mẫu nước, mẫu cá từ nhà chức trách thì vẫn tiếp tục xảy ra tình trạng trên.

Chị Nguyễn Thị Xuân than thở, "Nửa đêm vợ chồng tôi ra kiểm tra bè cá thì phát hiện cá chết. Trước đó cũng xảy ra tình trạng này, nhưng mới chết độ mấy chục kg, nay thì chết trắng bè. Vợ chồng tôi chỉ biết cầu trời để cá đừng chết thêm chứ thế này thì chúng tôi mất hết, chẳng còn gì."

Trước tình trạng khẩn cấp này chính quyền đã làm gì?
Gần 12 giờ trưa, ông Nguyễn Thanh Tịnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trực tiếp đến hiện trường vận động các người dân thu dẹp cá và mời về trụ sở UBND tỉnh làm việc, đối thoại thì họ đồng ý.

Ông Tịnh nói, "Chúng tôi rất hiểu thiệt hại do cá chết của bà con nên sau khi sự cố xảy ra đã giao cho các ban ngành vào cuộc điều tra, xử lý. Tuy nhiên, giải quyết vấn đề gì cũng có thời gian và cơ sở khoa học nên mong người dân hiểu để khiếu nại đúng luật, không gây mất trật tự an ninh." Còn số liệu cá chết vẫn đang được cơ quan chức năng thống kê.

- Lại cái luận điệu chờ "điều tra, xử lý" và còn "đang thống kê"(!) – Nản quá!

Đấy là một địa phương ở miền Nam. Còn ở miền Trung chỉ tính một địa phương thôi.

Cá chết nổi đầy mặt sông ở Quảng Trị
Trên sông Sa Lung đoạn qua cầu Phúc Lâm (tỉnh Quảng Trị) có hiện tượng cá chết đầy mặt sông, bước đầu được giải thích là do "cá nước ngọt trôi về gặp nước lợ nên bị sốc."

Sáng 6/9, tại cầu Phúc Lâm (nối xã Vĩnh Thủy và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị), người dân phát hiện cá nổi lờ đờ, thoi thóp rồi chết đầy trên mặt sông Sa Lung. Cá chết chủ yếu là trắm, hanh... với các kích cỡ khác nhau.
Cá chết nổi kín mặt nước trong bè của những người nông dân.
Một số người vớt cá cho biết nước sông đổi màu sang đục ngầu, bốc mùi hôi và cho rằng hiện tượng này có nguyên nhân từ một số nhà máy chế biến cao su ở thượng nguồn.

Ông Phan Ngọc Nghĩa, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Thủy thông tin hiện tượng cá chết do xả đập ở thượng nguồn, cá nước ngọt trôi về gặp nước lợ nên sốc và chết. Ông Nghĩa nói, "Chúng tôi chưa xác định sự liên quan của các nhà máy cao su."

- Thưa ông chủ tịch Nghĩa ông lấy bằng chứng ở đâu, đã xác định chưa mà dám nói nhà máy cao su không có liên quan gì đến việc cá chết? Ông có liên hệ gì với nhà máy này không? Chắc trước khi lập nhà máy, chủ nhân phải đến chào ông. Nói thế là đủ hiểu rồi, cái "thủ tục đầu tiên" này cả nước đều biết. Quan với doanh nghiệp như cá với nước còn với dân như cá với thớt. Câu phương ngôn ấy đến bây giờ đúng 100%.

Ở ngay Thủ đô Hà Nội cá cũng chết
Thật ra cách đây bốn năm, ngay từ năm 2012, đề án điều tra, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, hệ sinh thái lòng Hồ Tây đã cảnh báo hồ bị ô nhiễm kim loại nặng. Bởi có tới hơn 50 cống xả thải trực tiếp vào hồ Tây.

Những ngày vừa qua, tại Hồ Tây vẫn xảy ra hiện tượng cá chết bất thường; UBND TP đang tập trung chỉ đạo kiểm tra, xác định nguyên nhân cá chết và có những giải pháp khắc phục ban đầu.

Để bảo đảm an toàn tại các hồ nước trên địa bàn TP, Chủ tịch UBND TP yêu cầu Giám đốc các Sở, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã, Công ty MTV Môi trường Đô thị Hà Nội; Công ty MTV thoát nước Hà Nội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường nước tại các hồ chứa nước trên địa bàn, tích cực phối hợp cùng các cơ quan chức năng trong việc đảm bảo vệ sinh môi trường tại nơi sinh hoạt.

Người dân Hà Nội nói, "Đổ bao nhiêu tiền của xuống đó giờ xem như mất hết. Chúng tôi giờ không biết lấy tiền đâu mà trả nợ. Chỉ mong sớm tìm ra nguyên nhân để chúng tôi biết và tìm cách khắc phục."

Hà Nội cảnh báo người dân không vớt, ăn cá chết tại Hồ Tây khi chưa có kết luận chính xác của cơ quan chức năng về việc có hay không các chất độc hại trong cá. Trong khi chờ đợi các cơ quan kiểm tra, người Hà Nội vẫn ăn cá. Chờ đến bao giờ mới kiểm tra xong. Lúc đó người chết đã chết rồi, có ngỏm cổ dậy mà đòi đền bù được không?

Trên đây chỉ là những thông tin ngắn gọn tôi tóm tắt trong mỗi địa phương của cả nước. Còn bao nhiêu cá chết và người chết chưa thể tổng kết được. Anh nào chết cứ chết, anh nào ba hoa "sáng vác ô đi, chiều mang túi tiền về" vẫn thản nhiên như không có gì xảy ra. Đó là tình trạng chung của các "cơ quan chức năng" với bộ mặt trơ lỳ khi giải quyết các vấn đề khó khăn của dân. Chỉ có cái phong bì là đi nhanh lắm.

Văn Quang
Viết từ Sài Gòn ngày 24.10.2016

2016/10/25

ĐÚNG QUY TRÌNH

ĐÚNG QUY TRÌNH

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Anh em, con cháu, họ hàng nội ngoại của ông quan đầu huyện, đầu tỉnh được bổ nhiệm cấp tập, vội vã, dấm dúi vào những chiếc ghế quan chức trong huyện, trong tỉnh rồi lại được cơ quan tổ chức bộ máy nhà nước trung ương xác nhận việc bổ nhiệm dấm dúi đó là đúng qui trình!

Nhà nước phong kiến thối nát cũng không đốn mạt đến mức đẻ ra cái qui trình bất lương để những cậu ấm cô chiêu hoàn toàn vắng bóng tài năng, vắng bóng nhân cách, vắng bóng cả trong những lúc khó khăn của dân của nước bỗng sỗ sàng nhảy tót lên những chiếc ghế quyền lực của những hiền tài.

Ở thời xa xưa, ở thang bậc văn minh rất thấp, cá nhân chưa được nhìn nhận, con người công dân chưa có. Sơn hà xã tắc là của vua. Nhà nước của vua. Người dân cũng chỉ là bầy đàn, là thần dân, là tôi tớ của vua. Vua cho ai sống thì được sống, bắt chết thì phải chết, không chết là bất trung. Ở thời mông muội, dã man đó người dân cũng không bị bộ máy nhà nước phong kiến khinh bỉ đến mức coi dân đen như cỏ rác, quan chức ngang nhiên kéo cả nhà, cả họ đạp lên mặt dân, ngồi lên đầu dân.

Ở thời quyền con người chưa được nhìn nhận đó nhà nước phong kiến vẫn coi trị nước an dân là điều quyết định sự suy thịnh, mất còn của nước nên không có thứ quan tắt, không có chuyện cả nhà, cả họ thậm thụt đôn nhau, nâng đỡ nhau ra làm quan. Nhà nước phong kiến ở thời ngưng đọng, tối tăm đó vẫn biết quí trọng hiền tài như báu vật, như nguyên khí quốc gia, vẫn chăm chút, đều đặn tổ chức những cuộc thi nghiêm ngặt, công bằng, từ thấp đến cao, thi hương, thi hội, thi đình, tìm hiền tài trong dân để nhà vua ban mũ, áo, võng, lọng, cờ, biển công bố công khai, rộng rãi người đủ tài đức bổ nhiệm vào bộ máy trị nước an dân. Những hiền tài trong dân được phát hiện, trong dụng đã để lại những tên tuổi rực rỡ trong thời gian, trong sử sách như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Giang Văn Minh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Nguyễn Quý Đức . . .

Đến cách mạng tư sản dân quyền, Tự do – Bình đẳng – Bác ái, mở ra thời văn minh công nghiệp, văn minh đô thị. Người dân trở thành công dân tự do và mọi công dân tự do, từ người đứng đầu nhà nước đến người dân thường đều bình đẳng trước pháp luật, đều là người thực sự làm chủ đất nước. Được quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước và bằng lá phiếu người dân bầu ra lực lượng chính trị cầm quyền. Đó là nội hàm, là giá trị, là quyền lực của công dân tự do.

Thông đồng cùng nhà đầu tư, quan cai trị nhắm mắt kí duyệt cho nhà đầu tư hối hả đắp đập, trữ nước, xây hết nhà máy thủy điện này đến nhà máy thủy điện khác. Hàng trăm ngàn hecta rừng nguyên sinh mang hồn rừng, là cội nguồn của dòng văn hóa rừng đặc sắc, trong mát, cổ xưa, lâu đời chìm nghỉm, mất trắng dưới đáy hồ thủy điện. Làm thủy điện chỉ để kinh doanh, chỉ nhằm lợi nhuận, đầu tư thấp nhất, thời gian xây dựng lẹ nhất, sinh lời sớm nhất. Hậu quả: Chỉ vài trận mưa bình thường, nước dồn về hồ thủy điện đã vượt giới hạn an toàn. Nhà máy thủy điện vội tháo van xả nước bảo đảm an toàn cho nhà máy, bảo đảm an toàn đồng vốn và lợi nhuận của nhà đầu tư. Nhưng dưới hạ lưu hồ thủy điện, hàng ngàn ngôi nhà dân bị nước xả thủy điện cuốn ra sông ra biển, hàng chục người dân bị lũ xả dìm chết chìm thì nhà đầu tư và quan cai trị đều nói việc xả lũ của nhà máy thủy điện là đúng qui trình.
Người dân không bị gạt ra rìa trong qui trình bổ nhiệm bộ máy công bộc của dân mà người dân là chủ thể của qui trình đó. Qui trình đó là: Hướng tới người dân. Tìm hiền tài trong dân. Tìm công bộc của dân. Và những công bộc đó đều tâm niệm phục vụ dân chứ không phải là quan cai trị hành dân, hống hách với dân, bóp nặn dân. Trong qui trình đó còn có cả cơ chế, cả luật pháp để giữ liêm sỉ cho công bộc và để người dân giám sát bộ máy công bộc, người dân có quyền loại bỏ những công bộc kém cỏi, không xứng đáng.

Đấy là những nhà nước đã qua cách mạng tư sản dân quyền, những nhà nước có cạnh tranh chính trị bằng đa nguyên và những nhà nước theo đuổi lí tưởng xã hội dân chủ. Không qua cách mạng tư sản dân quyền, cướp chính quyền bằng bạo lực cách mạng vô sản, vô đạo lí và vô luật pháp, nhà nước cộng sản Việt Nam độc tài đảng trị đã đi ngược với bước tiến đến văn minh của loài người, kéo xã hội Việt Nam lùi lại sau cả thời phong kiến ngưng đọng, tối tăm.

Điều khác nhau giữa nhà nước của cách mạng tư sản dân quyền và nhà nước của cách mạng vô sản là:

Nhà nước tư sản dân quyền coi người dân là chủ thể, đưa người dân lên vị trí người chủ đất nước, người chủ xã hội, nhà nước chỉ là công bộc phục vụ người dân, chỉ là công cụ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của người dân.

Còn nhà nước vô sản coi người dân là đối tượng phải chuyên chính, phải cải tạo, phải giáo dục! Câu cửa miệng của những người cộng sản là đảng viên phải giáo dục quần chúng. Trong trường đại học, đảng viên là cô văn thư đánh máy, chưa tốt nghiệp trung học, là bà tạp vụ và quần chúng là ông tiến sĩ, giáo sư giảng dạy ở trường. Và bà tạp vụ đảng viên có trách nhiệm phải giáo dục ông giáo sư! Chuyên chính và cải tạo bằng bạo lực đấu tranh giai cấp sắt máu mất tính người. Người dân chỉ là kho sức người và đất nước chỉ kho tài nguyên để nhà nước vô sản hối hả khai thác làm nghèo đất nước nhưng làm giầu cho những nhà cai trị để những nhà cai trị đó càng gắn chặt với nhà nước độc tài đảng trị, càng kiên trì sống chết với độc tài đảng trị.

Hành xử của nhà nước vô sản với đất nước, với người dân là hành xử của đội quân cai trị, đội quân chiếm đóng, đội quân cướp đoạt không từ một thứ gì. Cướp đoạt chính quyền. Cướp đoạt quyền lực. Cướp đoạt đất đai. Cướp đoạt nguồn sống của dân. Chứ không phải hành xử của một nhà nước.

Ở cấp nhà nước, nhà nước cộng sản chiếm đoạt quyền lực của người dân bằng điều 4 Hiến pháp. Không cần phiếu bầu của dân, sỗ sàng và ngạo ngược, đảng cộng sản tự cho mình quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, dù ngày nay đảng chỉ là tập hợp của những bất tài và tham nhũng.

Ở cấp địa phương, cấp bộ, ngành, những quan chức bất tài và tham nhũng ráo riết vơ vét, bóp năn dân và đưa con cháu họ hàng phủ kín những chiếc ghế cai trị để củng cố quyền lực của dòng họ cai trị. Dân đen chỉ là kẻ bị trị nên chiếc ghế cai trị là của riêng các quan. Nhưng một dòng họ không thể phủ kín những chiếc ghế cai trị mà phải có ít nhất vài dòng họ. Những dòng họ làm quan luôn tranh giành, đấu đá nhau vì những chiếc ghế cai trị đầy quyền uy và bổng lộc. Vì thế mà một sớm tháng tám mùa thu cách mạng năm 2016 này, tiếng súng Yên Bái đã vang lên, dòng máu của ba dòng họ cai trị dân lênh láng công đường Yên Bái. Tất cả đều đúng qui trình!

Thông đồng cùng nhà đầu tư, quan cai trị nhắm mắt kí duyệt cho nhà đầu tư hối hả đắp đập, trữ nước, xây hết nhà máy thủy điện này đến nhà máy thủy điện khác. Hàng trăm ngàn hecta rừng nguyên sinh mang hồn rừng, là cội nguồn của dòng văn hóa rừng đặc sắc, trong mát, cổ xưa, lâu đời chìm nghỉm, mất trắng dưới đáy hồ thủy điện. Làm thủy điện chỉ để kinh doanh, chỉ nhằm lợi nhuận, đầu tư thấp nhất, thời gian xây dựng lẹ nhất, sinh lời sớm nhất. Hậu quả: Chỉ vài trận mưa bình thường, nước dồn về hồ thủy điện đã vượt giới hạn an toàn. Nhà máy thủy điện vội tháo van xả nước bảo đảm an toàn cho nhà máy, bảo đảm an toàn đồng vốn và lợi nhuận của nhà đầu tư. Nhưng dưới hạ lưu hồ thủy điện, hàng ngàn ngôi nhà dân bị nước xả thủy điện cuốn ra sông ra biển, hàng chục người dân bị lũ xả dìm chết chìm thì nhà đầu tư và quan cai trị đều nói việc xả lũ của nhà máy thủy điện là đúng qui trình.

Nhà máy thủy điện xả lũ đúng qui trình. Nhà dân bị lũ xả cuốn trôi và người dân bị lũ xả dìm chết cũng đúng qui trình. Đó là cái qui trình coi dân chỉ là kho sức người để quan cai trị sử dụng, bóp nặn và đất nước chỉ là kho tài nguyên để quan cai trị tùy tiện khai thác, vơ vét cho lợi ích nhà quan!

PHẠM ĐÌNH TRỌNG
24/10/2016

ĐẠI BI KỊCH VIỆT NAM

ĐẠI BI KỊCH VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG

"Đất nước mình ngộ quá phải không anh.
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn".
(Trần Thị Lam)

Vâng, ngộ quá. Đúng là một đất nước không chịu phát triển, hoặc đúng hơn là không thể phát triển được vì mắc kẹt vào các nghịch lý, các mâu thuẫn nội tại chưa có cách gì gỡ ra được, đang loay hoay trong đại bi kịch.

1. Chế độ mang danh XHCN mà thực chất không phải XHCN
Chế độ XHCN chỉ mới manh nha ở Liên Xô và Đông Âu một thời gian đã vội tan rã. Theo tưởng tượng của Mác thì XHCN và sau đó CSCN chủ yếu là thể chế kinh tế "làm tùy sức, hưởng theo nhu cầu", không có bóc lột, không có áp bức. Nền kinh tế đó phải dựa trên công hữu tư liệu sản xuất. Vấn đề lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyên chính vô sản chỉ là biện pháp để thực hiện nền kinh tế đó. Trong chế độ XHCN công nhân và nông dân làm chủ nhà máy, ruộng đồng, mọi người sống tự do, hạnh phúc, giáo dục và y tế miễn phí v.v… Nếu hiểu CNXH là như thế thì ở Việt Nam, ngoài việc chuyên chính do Đảng CS thao túng, không có gì đáng kể là XHCN. Không cần dẫn chứng, không phải chứng minh, cứ nhìn vào cuộc sống thực tế là thấy hết. Phải chăng ở Việt Nam người ta chỉ đưa ra nhãn mác XHCN để tuyên truyền, còn thực chất là chế độ gì chưa biết chứ chắc chắn không phải là CNXH.

2. Nước cộng hòa nhưng hành xử theo phong kiến
Chế độ phong kiến ở Việt Nam có nhiều thời kỳ thịnh trị, có vua sáng tôi hiền, dân được sống ấm no hạnh phúc, nhưng cũng nhiều lúc thối nát, gặp phải vua đểu và hèn, quan tham và ngu. Những lúc như thế dân phải chịu trăm đường khổ nhục. Bản chất của phong kiến là quyền bính tập trung vào vua quan, người dân chỉ là "thảo dân" chẳng có quyền gì, phải lo làm để nuôi bọn thống trị. Tội nặng nhất là khi quân (nói hoặc làm khác ý vua), nghĩa là không được tự do tư tưởng, không có tự do ngôn luận. Vua đứng trên luật pháp, cho sống được sống, bắt chết phải chết, nghĩa là không cần tôn trọng nhân quyền. ĐCS đã làm cách mạng đánh đổ phong kiến, nêu danh là nước Cộng hòa XHCN, xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, không ngờ lại tái lập phong kiến dưới hình thức khác, không có một ông vua rõ ràng mà vua tập thể, vua ở trung ương, vua tại các địa phương. Không phải tái lập được nền phong kiến thịnh trị mà là phong kiến thối nát. Theo mô tả của Milovan Djilas thì CS đã lập nên một "Giai cấp mới "để thống trị xã hội còn tàn bạo, thâm hiểm hơn bọn phong kiến. Đúng như bài thơ của Trung tướng Trần Độ:

Những mong xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Tưởng ác xóa rồi thay cực thiện
Ai hay cái ác cứ luân hồi.

Cái ác mà Trần Độ nói đến là cái ác do bọn thống trị gây ra, bắt dân phải chịu.

3. Là tư bản man rợ nhưng được ngụy trang bằng định hướng XHCN
Chế độ kinh tế tư bản đã bắt đầu bằng những thủ đoạn man rợ, hoang dã như làm giàu trên sự bần cùng hóa công nông, hủy hoại tài nguyên và môi trường. Đó là thời kỳ vào thế kỷ 18, được Mác khảo sát để viết nên Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Tư bản luận, đồng thời tưởng tượng ra học thuyết CNCS. Tiếp theo chế độ tư bản có các thời kỳ phát triển và đến bây giờ đã có những nước được ví là thiên đường nơi hạ giới, như các nước Bắc Âu. ĐCS Việt Nam một thời gian dài đã rất nhầm lẫn khi đồng nhất tư bản với đế quốc xâm lược và quyết tâm làm tên lính xung kích đào mồ chôn chúng nó. Từ năm 1986 Việt Nam cởi trói nền kinh tế, để cho tư nhân phát triển, gọi là đổi mới, nhưng thực ra chỉ là sửa sai để đi theo con đường kinh tế thị trường của tư bản, mà còn đèo thêm định hướng XHCN. Nhiều người thắc mắc ý nghĩa của khái niệm định hướng XHCN, nó có nội hàm và ngoại diên như thế nào. Theo tôi, ý muốn của người đưa ra định hướng XHCN là phải đặt cả nền kinh tế thị trường ấy nằm gọn dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Thế thì dưới sự lãnh đạo ấy nền kinh tế Việt Nam phát triển như thế nào. Rõ ràng là nó đang theo sát những thủ đoạn man rợ, hoang dã thời kỳ đầu của kinh tế tư bản, mà còn tệ hại hơn nhiều. Đó là sự cấu kết của bọn người có quyền với bọn tài phiệt trong và ngoài nước nhằm đục khoét, chiếm đoạt tài sản quốc gia, cướp ruộng đất và bóc lột nhân dân, vay nợ nước ngoài để đút túi một phần và để lại cho dân phải trả. Không những cấu kết với bọn tài phiệt mà còn bảo vệ chúng, tôn thờ chúng trong việc phá hoại đất nước(trong nền kinh tế thị trường thực sự hầu như rất hiếm có sự cấu kết này). Thế rồi lãnh đạo chính phủ đi cầu xin hết nước này đến nước khác để họ công nhận cho có nền kinh tế thị trường, nghĩa là đã theo được tư bản. Lúc cầu xin như thế thì cố tình cắt cái đuôi định hướng.

Tôi cho rằng tội ác lớn nhất nằm ở bên trong, phần nào bị che giấu, mang sắc thái vô hình. Đó là sự phá nát truyền thống đạo lý và văn hóa của dân tộc, là để cho việc gian dối trở thành phương châm xử thế từ quan đến dân, là sự hủy hoại thành phần tinh hoa của dân tộc để phải chấp nhận những kẻ vừa thiếu trí tuệ vừa kém đạo đức giữ những cương vị lãnh đạo và quản lý đất nước. Công nhận rằng sự phá nát, sự hủy hoại này không phải là ý đồ tự giác của CS, họ không cố tình làm những việc đó, nhưng nó là kết quả tất yếu của dấu tranh giai cấp, của vô sản chuyên chính, của công hữu hóa tư liệu sản xuất, của nền độc tài đảng trị. Những kết quả tất yếu này ban đầu những người CS chưa nhận thấy, đến khi nó bộc lộ rõ ràng thì cố tình che giấu hoặc ngụy biện để bao che.
4. Rập khuôn theo phát xít nhưng lại hô hào dân chủ
Sự xâm lược của Phát xít Đức vào Liên xô và sự thắng lợi của Hồng quân trong đại chiến 2 làm nhiều người nhầm, cho rằng CS và phát xít là đối nghịch nhau. Thực ra không phải như vậy. Jeliu Jeliev, một trí thức Bungari, năm 1967 đã viết quyển sách Chế độ phát xít (năm 1990 Jeliu Jeliev được bầu làm Tổng thống của Bun). Đọc xong quyển Chế độ phát xít (Hitler-Đức và Mutxôlini-Ý) mới thấy tổ chức xã hội và sự thống trị của ĐCS Việt Nam gần như sao chép từ chế độ đó. Về nhà nước, đó là việc đặt Đảng bao trùm lên toàn bộ chính quyền và xã hội, tạo ra một chính quyền nữa cao hơn, là việc bầu cử hài hước để tạo ra Quốc hội bù nhìn, là tổ chức công an, mật vụ để do thám tổng thể và đàn áp, là các tòa án bị Đảng thao túng, viện kiểm sát phải phục tùng cảnh sát, là việc dùng thủ đoạn dối trá và bạo lực trong cai trị, là việc bóp nghẹt tự do dân chủ, lập các trại cải huấn v.v… Về nhân dân, đó là cách khống chế mọi tầng lớp xã hội trong các đoàn thể quần chúng, biến nhân dân thành quần thể không tính cách, mọi thứ phải phục tùng đảng, là mâu thuẩn giữa đảng và tầng lớp trí thức chân chính, là sự tan rã của tầng lớp tinh hoa, là sùng bái cá nhân lãnh tụ v.v... Xét về mặt thống trị thì CS và phát xít giống như hai anh em sinh đôi, được bú từ một nguồn sữa. Thế nhưng cứ nghe những lời tuyên truyền thì chế độ CSVN "dân chủ đến thế là cùng", là dân chủ gấp hàng ngàn, hàng vạn lần các nước tư bản. Không biết họ nói thế và có tin vào điều đó không vì không thấy họ ngượng mồm một chút nào cả. Cũng không biết họ định đánh lừa ai. Hay là họ đã quen cho rằng dân chúng chỉ là một lũ người bảo sao nghe vậy. Mà khổ thay, vẫn có người tin và phụ họa lời họ nói.

CSVN và phát xít giống nhau nhiều điểm về thống trị, về đàn áp, nhưng có vài điểm CS không học được phát xít, đó là sự minh bạch và vững mạnh của chính quyền, là sự phát triển kinh tế hùng hậu. Cũng chưa nghe nói đến đảng phát xít phải ra nghị quyết làm trong sạch và chỉnh đốn.

5. Đại bi kịch
Tóm lại xã hội Việt Nam hiện nay là sự trộn lẫn các phần của CNXH, phong kiến, tư bản, phát xít, mà thảm thương thay lại chủ yếu là trộn lẫn những phần xấu xa nhất, tệ hại nhất của từng chế độ để tạo nên một đại bi kịch cho xã hội (về hiện tượng, nhiều người thấy rõ, xin không kể ra dài dòng). Sẽ có người hỏi, nói như vậy có bôi đen quá mức không? Sao không nhìn vào những sân bay, những con đường, những chiếc cầu, những tòa nhà cao tầng được xây dựng ở khắp nới, sao không nhìn vào xuất khẩu tôm cá, lúa gạo, hoa quả, dầu thô, quần áo, giày dép, sao không nhìn vào vị thế ngoại giao với nhiều nước và Liên Hiệp Quốc, sao không biết sự tăng trưởng GDP mỗi năm đều trên 6%, sao không so sánh đời sống của dân chúng bây giờ với trước 1945 và thời kỳ 1980 v.v... Xin thưa, có nhìn thấy chứ. Nếu không có những thứ đó thì Đảng tiêu vong rồi, dân tộc lụn bại lâu rồi chứ đâu còn như bây giờ để thảo luận. Có so sánh chứ. So sánh theo phương dọc, nghĩa là so sánh ta với ta qua thời gian, và so sánh theo phương ngang, là so sánh ta với người khác trong cùng thời gian và hoàn cảnh. Khi so sánh theo phương ngang mới thấy chúng ta thua kém người ta quá chừng.

Trong lúc nội chính còn bị rối như tơ vò thì thảm họa từ Trung cộng lại chụp xuống. Sự bành trướng với ý đồ "Bình thiên hạ" của Đại Hán đã hủy diệt dần dần các dân tộc Mãn, Mông, Hồi, Tạng. Các dân tộc này đã có thời kỳ huy hoàng trong lịch sử, nhưng rồi vì chung ý thức hệ CS mà bị người Hán nô dịch . Đại Hán không ngừng âm mưu thôn tính và hủy diệt dân tộc Việt. Theo dự đoán của cố Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thì sau Hội nghị Thành Đô Việt Nam có thể mắc vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 5? Thế mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước cam tâm thần phục Đại Hán. Đó cũng là một trong những đại bi kịch.
Có lý thuyết cho rằng kinh tế của xã hội phát triển hơn kém nhau ở năng suất lao động, và năng suất đó của Việt Nam đứng vào hạng thấp của khu vực và thế giới. Người ta kêu gọi tăng năng suất nhưng không biết tăng bằng cách nào. Tuy vậy năng suất lao động cũng chỉ là một chỉ tiêu của kinh tế. Quan trọng hơn là chỉ tiêu hiệu quả . Có thể hiểu sơ lược: Hiệu quả P =[(T – C) / C] 100%. Trong đó T là phần thu được, C là phần chi phí bỏ ra. Trong phần lớn báo cáo của mọi cấp mọi ngành người ta chủ yếu nêu ra T mà ít quan tâm đến C và P. Nếu tính được P cho nền kinh tế Việt Nam trong mấy chục năm qua thì thấy đó là một số âm có giá trị tuyệt đối khá lớn. Hiệu quả âm có nghĩa là kết quả càng lớn, làm càng nhiều thì thua lỗ càng nặng.Thể hiện rõ nhất của việc này là vay nợ nước ngoài càng ngày càng tăng và trước mắt chưa có cách gì trả được. Hàng năm phải vay thêm chỉ để trả phần tiền lãi.

Kinh doanh, khởi nghiệp, các dự án phần lớn không lành mạnh. Đa số doanh nhân làm giàu không phải bằng trí tuệ, sáng tạo mà bằng quan hệ đen tối, bất chính với thế lực có quyền (chia chác, hối lộ). Những doanh nghiệp làm ăn chân chính, không chịu chấp nhận liên minh ma quỷ với thế lực có quyền thường bị đe dọa, bị phá phách, bị triệt hạ. Vụ bà Ba Sương với Nông trường Sông Hậu, vụ kiện ra Tòa án quốc tế của ông Trịnh Vĩnh Bình, quốc tịch Hà Lan, đòi Chính phủ Việt Nam bồi thường 1 tỷ USD là các dẫn chứng sinh động. Làm kinh tế như vậy chủ yếu là trò trộm cướp, lừa đảo chứ không phải phát triển đúng hướng.

Mà phát triển xã hội đâu phải chỉ có kinh tế. Còn có thứ cần hơn là văn hóa, là đạo đức. Phát triển kinh tế với hiệu quả âm, lại phá nát tài nguyên và môi trường, hủy hoại văn hóa và đạo đức thì cái giá của nó là quá đắt. Trước năm 1986, vì phạm quá nhiều sai lầm nghiêm trọng trong chính sách kinh tế theo định hướng XHCN mà đất nước lâm vào cảnh đói kém, kiệt quệ. Tình trạng đó làm rối trí và mờ mắt nhiều người nên từ năm 1986, để sửa sai người ta lại đổ xô vào phát triển kinh tế bất chấp mọi tai họa về môi trường và đạo đức mà nó mang lại.

Để phát triển xã hội, ngoài kinh tế, văn hóa, đạo đức, còn cần đến tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, một cuộc sống yên bình, một xã hội tin yêu, thân thiện, chứ đâu có phải chỉ kinh tế. Mà về kinh tế, con số tăng trưởng GDP hàng năm cũng rất đáng ngờ. Tăng như thế mà sao năm nào ngân sách cũng thâm hụt, mà nợ nần vẫn chồng chất, hay là phần lớn ngân sách tăng được lọt vào túi cá nhân.

Khi nhìn xã hội hiện tại nhiều người thấy rõ (vì không giấu đi đâu được) những tội ác như hủy hoại môi trường, nạn bạo hành, dân oan, hàng giả, hàng lậu, thực phẩm bẩn v.v.., những quốc nạn như tham nhũng, lãng phí, mua quan bán tước, giáo dục xuống cấp v.v... Đó chỉ là những thể hiện bề ngoài. Tôi cho rằng tội ác lớn nhất nằm ở bên trong, phần nào bị che giấu, mang sắc thái vô hình. Đó là sự phá nát truyền thống đạo lý và văn hóa của dân tộc, là để cho việc gian dối trở thành phương châm xử thế từ quan đến dân, là sự hủy hoại thành phần tinh hoa của dân tộc để phải chấp nhận những kẻ vừa thiếu trí tuệ vừa kém đạo đức giữ những cương vị lãnh đạo và quản lý đất nước. Công nhận rằng sự phá nát, sự hủy hoại này không phải là ý đồ tự giác của CS, họ không cố tình làm những việc đó, nhưng nó là kết quả tất yếu của dấu tranh giai cấp, của vô sản chuyên chính, của công hữu hóa tư liệu sản xuất, của nền độc tài đảng trị. Những kết quả tất yếu này ban đầu những người CS chưa nhận thấy, đến khi nó bộc lộ rõ ràng thì cố tình che giấu hoặc ngụy biện để bao che.

Trong lúc nội chính còn bị rối như tơ vò thì thảm họa từ Trung cộng lại chụp xuống. Sự bành trướng với ý đồ "Bình thiên hạ" của Đại Hán đã hủy diệt dần dần các dân tộc Mãn, Mông, Hồi, Tạng. Các dân tộc này đã có thời kỳ huy hoàng trong lịch sử, nhưng rồi vì chung ý thức hệ CS mà bị người Hán nô dịch . Đại Hán không ngừng âm mưu thôn tính và hủy diệt dân tộc Việt. Theo dự đoán của cố Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thì sau Hội nghị Thành Đô Việt Nam có thể mắc vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 5? Thế mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước cam tâm thần phục Đại Hán. Đó cũng là một trong những đại bi kịch.

Vạch ra như thế để rồi tìm con đường khắc phục. Việc đó như thế nào đã có nhiều người bàn tới. Riêng với tôi, trước đây cũng đã có vài lần bàn đến. Lần này bài viết đã khá dài, xin hẹn vào dịp khác.

N.Đ.C.