*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2015/09/15

Tìm về chú Đại Bi

Tìm về chú Đại Bi
 
- Nhập đề lung khởi:
Nhà tôi trước kia ở trên mặt đường ngay đầu một con hẻm nhỏ dẫn từ đường Cô Bắc sang tới cuối đường Đề Thám cận với đường lớn Trần Hưng Đạo. Tuy là xóm hẻm nhưng theo tôi nhớ cũng có trên 100 ngôi nhà chen chúc nhau vào lúc ấy. Xóm càng nghèo càng đông là chuyện thường thấy ở khắp nơi, mà có người thì có những lễ nghi của quan hôn tang tế. Chuyện bắt đầu từ lúc nào thì tôi không nhớ nhưng hễ trong xóm có người qua đời do tuổi tác, bệnh tật, nạn tai hay chiến tranh thì đều đặt quan mượn ngay trước cửa nhà vì đó là chỗ trống rộng rãi duy nhất để mọi người tụ họp. Tiếng khóc, nhạc đám ma, người đến điếu viếng an ủi, kẻ góp nhặt phúng góp giúp tang gia. Ma chay dĩ nhiên phải rước thầy về làm lễ cầu siêu, hòa lẫn trong tiếng mõ đêm khuya, tiếng chuông khánh sáng là giọng trầm bổng u oán của các thầy với những từ ngữ lạ hoắc đại để như " bà dô bà ra, lật y mông" mà tôi chẵng hiểu gì ở lứa tuổi đó. Có lần, sau buổi tụng tôi có đánh bạo hỏi thầy và sau nầy trên đường đời với nhiều vị thầy khác nữa thì được trả lời gần gần như nhau. " Đó là chú của nhà Phật, bất khả tư nghì không thể nghĩ bàn, nói ra thì mất đi sự linh ứng. " Lúc nhỏ thì tôi tin lắm.

- Dẫn nhập:
NGÔN NGỮ là tiếng nói của một nhóm người, khảo cứu ngôn ngữ qua 3 khía cạnh chuyên môn như hình thái (forms), ngữ nghĩa (meaning) và ngữ cảnh (context) là chuyện của các nhà chuyên môn Linguistic, tôi chỉ hiểu đơn giản rằng có tiếng nói thì có ÂM THANH. Loại âm thanh đơn hay đa trầm hay bổng đó (hình thái ) được một nhóm người đều đồng ý đặt định cho sự vật gì hữu hình (cảnh) hay một loại tâm trạng xúc cảm vô hình nào (nghĩa). Tóm lại, tiên quyết của ngôn ngữ là tiếng động là âm thanh.

VĂN TỰ là chữ viết, phân tích cùng khắp rồi cũng chỉ đến kết luận là hình thức " ký hiệu hay lối vẽ lại âm thanh " để người có cùng kiến thức được đặt định như mình có thể phát ra tiếng đó hoặc âm thanh đó.

- Vào bài:
Sau một thời gian tìm hiểu, tôi được biết thêm bài chú các thầy thường tụng đó có tên gọi rất dài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni do ngài Bồ tát Quán Thế Âm tuyên chú trước hội các chư Phật chư Bồ tát.
 

Không mang ý nghĩa riêng tư nào, khi tìm hiểu thêm, chúng ta thấy xuất thân ngài Quán Âm không như đức Phật Thích Ca hoặc như chư thánh tăng sau này. Ngài chỉ hóa hiện ra trong kinh điển và tượng thờ nơi các chùa mà không có chứng cứ nào cho thấy ngài xuất hiện trong thế gian thực tại này. Nói cho rõ hơn, ngài không có một lý lịch rõ rệt về quê quán, cha mẹ, nơi tu đạo, lúc mất hoặc xá lợi gì để lại cho chúng sanh phàm trần. Ngài chỉ xuất hiện trong kinh điển Bắc tông và sẽ linh ứng mãi khi còn có người tụng niệm.

Bài chú Đại Bi lúc đầu được ghi chép bằng văn tự Sanskrit hay còn gọi là Bắc Phạn. Các nhà ngôn ngữ học ngày nay tìm thấy nhiều tài liệu để chứng minh rằng Sanskrit thuộc hệ ngôn ngữ Indo-Iranian và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ Indo-European nguyên thủy lúc đầu. Rất nhiều các từ của Âu Châu và Anh ngữ ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Sanskrit hay nói như các nhà Linguistic thời đại này thì Sanskrit is the root of all languages. ( Sanskrit là rể nguồn của nhiều nền ngôn ngữ khác ). Điều này dĩ nhiên dấy lên làn sống tranh cãi giữa các chú Âu Châu và các cụ Á Châu nhưng không thuộc về phạm vi bài biết này.

Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy khi mà đại sư Huyền Trang thỉnh tam tạng kinh điển từ Thiên Trúc về. Sau đó , tuy ốm đau và lớn tuổi, ngài đã ra sức dịch thuật và giới thiệu đến hậu thế cùng với công phu bao đời của các vị uyên thâm sau như ngài Nghĩa Tịnh v.v... để có phần Hán Tạng phong phú hiện nay. Truớc ngài Huyền Trang, cũng đã có những vị như Ngài Cưu Ma La Thập, ngài Bồ Đề Lưu Chi, nhưng phần dịch thuật của các ngài lại không được đón nhận nhiều.  

- Đặt vấn đề:
Vậy ta được biết, bài chú mà chúng ta tụng niệm hằng ngày trước tiên có xuất xứ từ Sanskrit Bắc Phạn, sau đó được dịch sang Hán ngữ và cuối cùng được dịch sang tiếng Việt Nam. Nhưng dịch làm sao mà ta không hiểu một câu nào? Thậm chí đến một chữ cũng không. Vấn đề ở đâu? và tại sao ta cần phải hiểu nghĩa lý trong đó, mọi người trì tụng rầm rì cả ngàn năm nay có sao đâu?

Còn nhớ trước năm 75 chúng ta được đọc các tác phẩm văn chương của Nga, Đức, Nhật v.v... qua các bản dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh của các dịch giả Việt Nam mà vẫn hiểu rõ ràng từng câu từng chữ. Tuy người Pháp cho rằng traduire c'est trahir - dịch tức là phản. Nhưng nếu cho rằng dịch một ngoại ngữ từ một ngoại ngữ thứ hai hoàn toàn không thể hiểu được thiếu phần chính xác ở đây. Bằng chứng rõ ràng là ta đọc và hiểu được qua tiếng Việt các tác phẩm như " Chiến tranh và hòa bình " Bác sĩ Zhivago" " Câu chuyên dòng sông" v.v...

- Suy diễn vấn đề:
Dịch thuật theo tôi chỉ là giải thích sự biến đổi âm thanh từ HÌNH THÁI quy định trước của nhóm người này qua một loại HÌNH THÁI âm thanh quy định của nhóm người khác sao cho họ ( 2 nhóm người ) cùng hiểu phiên phiến như nhau về NGHĨA và CẢNH. Nhưng nếu trong ngôn ngữ của nhóm này không có loại âm thanh đó thì sao? Do đó, từ sự phiên dịch chúng ta có thêm việc phiên âm là lối phát ra âm lơ lớ tạo ra được âm thanh gần như của phía bên này nhưng không có nghĩa cảnh gì của phía bên kia.

Thí dụ dể hiểu và gần với chủ đề bài này nhất tôi xin tạm dùng các chữ ngoại quốc như Washington - France - Italy - Turkey v.v... chẵng hạn. Ngày nay, chúng ta nhìn văn tự trên ( vốn là ký hiệu theo lối alphabet ) thì có thể đọc thẳng các từ trên do " vẽ lại đúng âm thanh". Nhưng với người Trung Hoa trước đây thì không thể được, trước hết họ không được huấn luyện để đọc ra các ký hiệu đó, tiếp nữa âm thanh của họ không có những hình thái đó để họ vẽ lại.

Như có đề cập ở trên, không phiên dịch được thì họ đành phải phiên âm, tức là mượn những ký hiệu nào có âm thanh gần gân phiên phiên lơ lớ như vậy để vẽ lên mà không mang bất cứ Nghĩa hay Cảnh nào trong trường hợp này.

Đây là hình vẽ các âm thanh trên và âm người Trung Hoa có thể phát ra mà ký hiệu alphabet ghi lại được:

华盛顿 huá shèng dùn 法蘭西 fǎ lang xī 意大利 yì dà lì 土耳其 tǔ ěr qí
Khi vẽ như vậy, người Trung Hoa có thể đọc lên các từ trên rất gần với nguyên âm, nhưng khi Hán Tự của Trung Hoa sang đến Việt Nam thì được chuyển đổi thành Hán Việt là hệ thống có cùng hình thái-ngữ nghĩa-ngữ cảnh như bên Trung quốc nhưng lại có lối phát âm địa phương khác nhau. Điều này cũng không khó hiểu lắm khi hiện nay Trung Hoa có khoảng 300 ngôn ngữ khác nhau tuy cùng phát âm trên một chữ viết từ khi nhà Tần thống nhất, mãi đến gần đây đã được lối chữ bính âm hay dể hiểu hơn một lối vẽ mới đơn giản hơn dần thay thế lối vẽ phồn thể nhiều nét. Như vậy, một chữ viết ra của Hán ngữ có gần 300 âm địa phương phát ra khác nhau. 

Hệ Hán-Việt khi đọc lên Hán tự lại có các âm khác rất nhiều so với âm Hán-Trung nên chúng ta đọc nên các âm sau đây:

Hoa Thịnh Đốn Pháp Lan Tây Ý Đại Lợi Thổ Nhỉ Kỳ

Dĩ nhiên, những âm trên hoàn toàn là tối nghĩa, không mang một ý thức hay ý tứ nào, nó chỉ giúp ích cho người Trung Hoa mượn đọc các âm ngoại khác mà không dùng cho người Việt đọc lên mang theo một ý nào. Không thể nào dịch Washington là nơi hoa khốn đốn rơi thịnh đầy , không dịch được France là hoa Lan trồng theo phương pháp ở hướng tâyv.v...

Cuối cùng, chỉ có hành động từ một phiên dịch chuyển thể sang một phiên dịch khác là rõ ràng và sáng nghĩa, ngược lại ta cũng thấy được sự vô ý sự cẩu thả hay nói nặng hơn là hành động mông muội của việc lấy phiên âm từ một ngoại quốc chuyển sang một loại phiên âm khác hay từ phiên âm chuyển sang phiên dịch càng tệ hại hơn.

Người xưa có nói, làm thầy thuốc phạm sai lầm thì giết một mạng người, làm chính trị sai lầm giết một dân tộc nhưng làm văn hóa sai lầm thì giết cả một thế hệ.

Trong những bài kinh Phạn được phiên âm sang tiếng Hán rồi lại phiên âm lần thứ nhì qua tiếng Hán-Việt tối nghĩa trên, đây không những là giết một thê hệ mà trên ngàn năm qua đã giết cả một nền đạo học tâm linh của biết bao thế hệ người Việt. Tệ hại nhất, là hàng tăng chúng với kỹ thuật hiện đại ngày nay lại không tìm hiểu nghiên cứu để phục hồi lại ý tưởng thâm diệu ban đầu của kinh tạng, chẳng những vậy, y cứ trên hàng cư sĩ không hiểu rõ đạo, các thầy giảng dạy tùy hứng tùy tâm trí sở kiến của các thầy đến với người nghe rõ ràng là đem hạ kinh điển chư Phật xuống ngang hàng với kiến thức không thể nghĩ bàn của bản thân mình.

Phật pháp thậm thâm vi diệu cứ như thế được một số tăng chúng vô minh lợi dụng. Sau đây sẽ dùng một câu rút từ bài chú đại bi bằng tiếng Sanskrit với các phiên dịch qua tiếng Anh tiếng Việt tiếng Trung cùng với các phiên âm của Hán-Trung và Hán Việt để chúng ta dễ dàng theo dõi và nắm giữ mạch của bài viết cũng như quý vị chú ý nhất vào phần phân câu và ngắt đoạn, do phiên âm không hiểu lời kinh nên người Trung Hoa đã ngắt thành 84 câu với những lời giải thích mơ hồ, lời chú nghĩa hoàn toàn sai nguyên nghĩa và còn sai quấy hơn trong việc y vào 84 câu mà chế bậy xuất tượng ra 84 hóa thân của đức Quán âm mà mỗi câu là một hình tướng khác nhau trong khi nguyên văn vốn chỉ có 36 câu.

Sanskrit : Namo ratna-trayāya Namo āriyā - valokite - s'varāya
Hán Trung văn tự : 南無 喝囉怛那哆囉夜耶 南無. 阿唎耶 婆盧羯帝. 爍缽囉耶
Hán-Trung âm: nā mo hē là dá nà duō là yè yé nā mo a lī yé wó lú jié dì shuò bō là yé
Hán Việt đọc từ Trung Văn: Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da Nam Mô A Rị Da Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

Tìm hiểu từng phần đoạn cổ kinh trên, ta lần lượt hiểu ra:
Namo hay còn được viết hoặc phát âm là Namah hay Namas có nghĩa là Thành kính hưóng về...
Ratna: là châu báu quý giá hay còn được gọi là Bảo theo Hán Việt
Tra: từ gốc có nghĩa là ba hay Tam của Hán Việt, ở đây chúng ta nghe thấy các âm Tri của Latin, Tres của Tây Ban Nha, Trois của Pháp hay Three của Anh Ngữ.
Trayaya ở đây có nghĩa là thể trạng 3 không tách rời nhau.
Ariya: là đấng thanh khiết, đấng huệ trí
Valokite còn đọc là Avalokite có nghĩa là sự tự tại
S'varāya hay còn đọc là s'varay (sound) chứ không phải là svaha (hail) có nghĩa là âm thanh chứ không có nghĩa là một lời chào mừng như nhiều người lầm tưởng.

Vậy nguyên văn của Namo ratna-trayāya Namo āriyā valokite s'varāya có nghĩa hết sức rõ ràng là Thành kính hướng tâm đảnh lễ ngôi Tam Bảo, thành kính hướng tâm đảnh lễ đấng tự tại và âm thanh.

Ta biết thêm do từ danh hiệu của ngài Avalokite Svaraya mà người Trung Hoa tôn ngài là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm hay Quán Âm. Cũng xin nói rõ thêm, danh từ Svaraya Quán Âm được thêm vào kinh điển sau thế kỷ thứ bảy chứ trước đó chưa hề xuất hiện. Có thể tín ngưỡng thiên hạ thấy ngài tự tại quá không được nên mới giao cho việc quán sát âm thanh để cứu độ chúng sanh.

Dưới đây là toàn bộ bài Chú Đại Bi với âm Hán Việt và lời chú giải, phần viết đậm nhạt vốn chỉ là ngắt câu cho mỗi nghĩa, nhưng được viết chung để nối ý vào nhau.

Câu 1
Namo ratna-trayāya Namo āriyā-valokite-s'varāya
Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da
( thành kính đảnh lể ngôi tam bảo)
Nam Mô A Rị Da Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da
( thành kính đảnh lể đức Quán Tự Tại - đức Quán Thế Âm )
 

Câu 2
Bodhi-sattvāya Maha-sattvāya Mahā-kārunikāya
Bồ Đề tát đỏa bà da ma ha tát đỏa bà da ma ha ca lô ni ca da
( bậc bồ tát giác ngộ hữu tình - bậc đại sĩ - bậc đại bi tâm )
 

Câu 3
Om sarva rabhaye sudhanadasya
Án Tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả
( tán thán việc quy y nhất thiết thánh chúng và chánh pháp tùy thuộc )
 

Câu 4
Namo skritva imam āryā-valokite-s'vara ram dhava Namo narakindi hrih
Nam mô tất kiệt lật đỏa y mông a rị da bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà Nam mô na ra cẩn trì hê rị
(Sau khi hoàn tất việc đảnh lể đấng Quán tự tại quán âm đại từ tâm địa tiếp đến thành kính đảnh lể bậc đại chí thánh, bậc hiền thiện tôn giã )


Câu 5
Mahā-vadha-svā-me
ma ha bàn đa sa mế
( Phóng ra ánh sáng đại quang minh )


Câu 6
Sarva-arthato-s'ubham ajeyam Sarva-sata
Tát bà tát bà a tha đậu du bằng a thệ dựng Tát bà tát đa na ma bà tát đa
( khiến cho hết thảy chúng sanh nhất thiết được vô ưu vô tỷ bỉ vô tham và trong sạch diệu tịnh.)


Câu 7
Namo-vasat Namo-vāka mavitāto
na ma bà tát đa Na ma bà dà Ma phạt đạt đậu
( từ đó, hướng tâm đảnh lể quy y bậc thiện hữu tình, quy y bậc đồng tử mà Trời và người đều hằng mong thân cận.)


Câu 8
Tadyathā: Om avaloki-lokate-
đát điệt tha Án. A bà lô hê Lô ca đế
( Thần chú tuyên ra: Hợp nhất thể đại đồng với Quán Tự Tại )


Câu 9 & 10
karate-e-hrih Mahā-bodhisattva Sarva sarva Mala mala
Ca ra đế Di hê rị Ma ha bồ đề tát đỏa Tát bà tát bà Ma ra ma ra
( từ người phát đại bi tâm đến nhất thiết các đại giác hữu tình như hoa thanh tịnh vô nhiễm lan ra khắp nơi chốn. )


Câu11 & 12
Mahi Mahi ridayam Kuru kuru karmam .
Ma hê ma hê rị đà dựng
( phát đại tự tại tâm hăng hái thường tạo nên các thiện nghiệp)


Câu 13 & 14
Dhuru dhuru vijayate Mahā-vijayati Dhara dhara dhrinis'varāya
Cu lô cu lô yết mông Độ lô đồ lô phạt xà da đế Ma ha phạt xà da đế Đà la đà ra Địa rị ni Thất Phật ra da
( mới có năng lực độ thoát khỏi các triền phược và vượt thắng lên được, phải ráng sức duy trì cho có được tâm kiên cố dũng mảnh tự tại)


Câu 15
cala cala mama vimala muktele
Giá ra giá ra Mạ mạ phạt ma ra Mục đế lệ
( lâu dần khiến cho biến hóa dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm )


Câu 16 & 17
Ehi ehi s'ina s'ina ārsam prasari vis'va vis'vam prasaya .
Y hê di hê Thất na thất na Ra sâm Phật ra xá lợi Phạt sa phạt sâm Phật ra xá da
( nương theo đó mà thực hiện hoằng pháp hởi vị Pháp vương tử chủ của hòa bình 


Câu 18 & 19
Hulu hulu mara Hulu hulu hrih
Hô lô hô lô ma ra Hô lô hô lô hê lỵ
( tiếp tục tu hành , tiếp tục làm sạch thân và làm sạch tâm - thanh tẩy thân tâm )


Câu 20 & 21
Sara sara Siri siri Suru suru Bodhiya Bodhiya Bodhaya Bodhaya
Ta ra ta ra Tất rị tất rị Tô rô tô rô Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ Bồ đà dạ bồ đà dạ
(Kiên cố lên, dũng mảnh lên, rực rỡ lên không thôi không gián đoạn. Giác ngộ, giác ngộ mau hỡi người có căn cơ chứng giác.


Câu 22 & 23 &24
Maitreya narakindi dhrish-nina bhayamana svāhā Siddhāya svāhā
Di đế lỵ dạ Na ra cẩn trì Địa rị sắc ni na Bà dạ ma na Ta bà ha Tất đà dạ Ta bà ha
( với tâm đại từ đại bi khi người đã thành tựu, có được danh tiếng cũng do tâm từ bi đó )


Câu 25 & 26 & 27
Maha siddhāya svāhā Siddha-yoge-s'varaya svāhā Narakindi svāhā
Ma ha tất đà dạ Ta bà ha Tất đà dũ nghệ Thất bàn ra dạ Ta bà ha Na ra cẩn trì Ta bà ha
( thành tựu do tâm đại từ bi phát ra, thành tựu trong việc giải thoát tương ứng với vạn pháp, thành tựu trong đức hạnh )


Câu 28 & 29 & 30
Māranara svāhā S'ira simha-mukhāya svāhā Sarva mahā-asiddhaya svāhā
Ma ra na ra Ta bà ha Tất ra tăng a mục khê da Ta bà ha Ta bà ma ha a tất đà dạ Ta bà ha
( thành tựu trong diệu nghĩa vô cấu, thành tựu không ai có thể sánh khi nói ra có sức thuyết phục, thành tựu ai có thể sánh trong tất cả các ý nghĩa sâu sắc )


Câu 31 & 32
Cakra-asiddhāya svāhā Padma-kastāya svāhā .
Giả kiết ra a tất đà dạ Ta bà ha Ba đà ma kiết tất đà dạ Ta bà ha
(thành tựu không ai sánh trong chuyễn Pháp luân , thành tựu không ai sánh trong đóa sen đỏ tượng trưng cho diệu tịnh nghiệp )


Câu 33 & 34
Narakindi-vagalāya svaha Mavari-s'ankharāya svāhā
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ Ta bà ha Ma bà rị thắng yết ra dạ Ta bà ha
( thành tựu trong việc trở thành đức Thế Tôn, thành tựu trong đem uy đức của mình tạo ra tính nhiệm cho mọi người )


Câu 35
Namo ratna-trāyāya Namo āryā-valokite-s'varaya svāhā
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da Nam mô a rị daBà lô kiết đế Thước bàn ra dạ Ta bà ha
( thành kính đảnh lễ ngôi tam bảo, thành kính đảnh lễ đức Quán Tự Tại - đức Quán Thế Âm )


Câu 36
Om Sidhyantu mantra padāya svāhā
Án. Tất điện đô Mạn đà ra Bạt đà gia Ta bà ha.
( tuyên chú: hiệp nhất các thành tựu trên viên mãn, đạt được sự viên mãn thành tựu đó qua trì tụng lời chân ngôn này)

- Kết:
Bài viết này sẽ khiến mất lòng nhiều người, tôi nhận thức được điều này trước khi ngồi viết ra. Một việc cả ngàn năm đương nhiên được mọi người nhìn nhận thì không thể chỉ trong khoảnh khắc với vài trang giấy thì có thể thay đổi được giá trị và ý nghĩa của nó.
 

Tôi viết để ... chơi với tôi, với những ai muốn chơi theo.
Tôi không chơi với anh Trung Hoa chuyên gia lừa gạt từ vật chất đến tín ngưỡng và tâm linh.
Tôi không treo 84 bức tranh Tàu vẽ hóa thân các vị tiên Trung Hoa và gọi là Quán Thế Âm.
 

Dịch thuật của tôi còn nhiều sai sót nhưng ít ra tôi không tụng lảm nhảm " bà dô bà ra " và nghe dạy cứ tin là được vì đức Phật không hề dạy ta những điều đó.

Cuối cùng, ai không thích, xin hãy ... bất khả tư nghì.

Huỳnh Bá Hinh
(09/2015)

2015/09/11

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC, ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Bài nầy tôi viết đã trên dưới 10 năm.  Bài cũ nhưng nội dung không cũ,
vẫn là một đề tài rất thời sự hiện nay.
Kính mời quý vị đọc.
(09/2015)


HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC,
 ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Định Nguyên

Hết chiến tranh đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa người VN với nhau vẫn chưa có hòa bình.  Thống nhất đất nước đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa chính quyền và người dân vẫn còn một khoảng cách lớn.  Hòa hợp hòa giải dân tộc là một ước vọng lớn lao và chính đáng tại sao không thực hiện được?  Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc đã được nói đến lâu nay. Thời gian gần đây, chuyện nầy lại được đề cập khá rôm rả, từ chính quyền cộng sản Việt Nam đến các phong trào đấu tranh đòi tự do-dân chủ, các nhà trí thức trong nước; từ các các đoàn thể, cá nhân đến những cơ quan truyền thông báo chí hải ngoại đều nói đến.  Nhưng cho đến nay (và có thể còn lâu) chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc vẫn khó được thành hình.  Tại sao?  

Ai cũng thấy rằng hòa hợp hòa giải dân tộc chưa có vì giữa các thành phần dân tộc không có sự đồng thuận về cách thực hiện và ý nghĩa chính trị của nó. Sau chiến tranh, về địa lý, Dân tộc Việt Nam chia thành hai khối: khối quốc nội và khối hải ngoại; về chính trị cũng tạm chia ra hai phía: phía Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng những người ủng hộ họ và phía những người Việt Nam không chấp nhận chủ nghĩa công sản, chống nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Sự khác biệt về địa lý không quan trọng bằng sự khác biệt về chính trị, và đây mới là vấn đề mấu chốt giải thích tại sao chưa có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Phải chăng vì người Việt chống cộng sản, đặc biệt là người Việt Nam hải ngoại, còn mang hận thù sâu sắc, quyết tiêu diệt cộng sản cho được, không chịu hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền trong nước dưới bất cứ hình thức nào?  Hay mục đích hòa hợp hòa giải dân tộc của chính quyền và đại khối dân chúng còn quá khác biệt nên không thể dung hợp được?

Đúng là tại hải ngoại, có những phần tử chống cộng cực đoan, chủ trương tiêu diệt cộng sản cho bằng được, không chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp hòa giải nào với cộng sản Việt Nam.  Với họ, ai nói đến hòa hợp hoà giải là "tay sai Việt cộng", là "thân cộng".  Cùng hàng ngũ chống cộng nhưng ai không nói như họ, không làm như họ cũng đều bị họ chụp mũ cộng sản hết, có khi họ dùng những lời lẽ rất thô tục, hạ cấp.  Đây là một thực tế tệ hại tại hải ngoại không ai đủ khả năng giải quyết, nó đã làm cho sinh hoạt cộng đồng ngày càng tan rã, không tập hợp được sức mạnh để "nói chuyện" với cường quyền trong nước.  Khi được hỏi: "Tiêu diệt Việt cộng bằng cách nào" thì không ai trong số họ trả lời được! Họ chỉ biết bày tỏ ý chí nhưng không có cách nào để biến ý chí ấy thành hiện thực, lại còn cản trở những nổ lực chống cộng sản khả thi khác.  Những người nầy không hề có ước vọng hòa hợp hòa giải dân tộc.  Nhưng thành phần nầy chỉ thiểu số, đã già nua, tuy cũng là một trở ngại cho hòa hợp hòa giải dân tộc nhưng không đáng kể.  Trở ngại chính cho hòa hợp hòa giải dân tộc là đường lối, chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam!  

Điều kiện để có hòa hợp hòa giải dân tộc là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của mọi thành phần dân tộc để cùng phục vụ đất nước trong tinh thần tự do, dân chủ.  Đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ có chủ trương như thế. Để thống trị Việt Nam, họ đã thi thố toàn là THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ VÀ BẠO LỰC, chưa bao giờ họ có THIỆN CHÍ VÀ THỰC TÂM với các thành phần dân tộc khác trong mọi việc liên quan đến đất nước.  Vì thế các thành phần Việt Nam thuần tuý chống chủ nghĩa cộng sản, chống thực dân Pháp, vì cả tin, lần lần bị họ tiêu diệt gần hết.   Đây là một thực tế lịch sử, không cần phải dài dòng liệt kê.  Từ Chính Phủ Liên Hiệp chống Pháp đầu tiên đến vụ Trăm Hoa Đua Nở (Nhân Văn Giai Phẩm)…ở miền Bắc; từ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau là CP/CMLTCHMNVN) đến chiến dịch lùa tất cả quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào tù sau 1975 đều thể hiện rõ thủ đoạn chính trị và bạo lực của họ.  Nếu vì thế kẹt cần phải nói chuyện hay hợp tác với ai, Việt cộng không bao giờ từ bỏ âm mưu:  nhận diện kẻ thù để từ từ trừ khử hoặc sử dụng qua giai đoạn rồi giải thể hoặc vô hiệu hóa. Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc hiện nay, có thể nói mà không sợ lầm lẫn rằng họ không hề có ước vọng hàn gắn mọi vết thương chiến tranh và hận thù mà chỉ tung ra những chiêu bài, những phủ dụ để quy tất cả về một mối dưới sự lãnh đạo của họ.  Nghị quyết 36 của họ cũng chỉ nhằm mục đích xâm nhập và thâu tóm các cộng đồng Việt Nam hải ngoại, không phải là một thiện chí nhằm xóa bỏ mọi ngăn cách, dị biệt giữa họ và đồng bào hải ngoại. Làm sao có được hòa hợp hòa giải dân tộc?!

Nếu họ, kẻ thắng trận, là một chính quyền vì dân vì nước (chứ không phải vì đảng), coi mọi thành phần dân tộc khác, kể cả những người bại trận, như anh em một nhà, đừng dùng bạo lực để trừng trị, đừng lấy hận thù mà đối xử thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ lâu.  Một việc xẩy ra trong trại cải tạo làm tôi nhớ mãi.  Sau hơn ba năm vào trại, mọi tâm tư tình cảm đã tạm lắng đọng, mọi sinh hoạt đã có vẻ bình thường thì bỗng nhiên vào năm 1979, tại trại cải tạo An Điềm (Quảng Nam-Đà nẵng) không khí sinh hoạt trở nên nghiêm ngặt khó thở.  Cán bộ thì hằm hằm, súng đạn tua tủa, hạn chế mọi sự đi lại, lục soát và tịch thu tất cả thuốc men, thực phẩm, gia vị khô của tù. Tù thì lơ láo lo sợ, chẳng biết chuyện gì xẩy ra.  Sau vài ngày có tin lọt vào: "Trung cộng đánh Việt cộng tại biên giới phía bắc"!  Tù chuyền tai nhau tin nầy và tỏ vẻ "phấn khởi" lắm.  Phấn khởi vì thấy phe cộng sản đánh nhau.  Phấn khởi vì mình có thể được giải thoát.  Nhưng chừng một tuần hay mười ngày sau, một "cán bộ trung ương" vào trại nói chuyện thì tình hình thay đổi hẳn. (Tôi không biết cán bộ nầy là ai, nhưng thấy cách tiếp đón và dàn chào của ban quản trại, tôi đoán ông nầy cũng cao cấp lắm).  Khi tất cả tù nhân đã ngồi răm rắp phía dưới, người cán bộ nầy và phái đoàn xuất hiện trên sân khấu trang trí ảnh ông Hồ, vải trải bàn, cờ, khẩu hiệu toàn màu đỏ. Việc đầu tiên cán bộ nầy làm trước mặt cả ngàn tù nhân là đuổi tất cả võ trang và quản giáo có nhiệm vụ giữ trật tự và bảo vệ ông đi chỗ khác chơi! Ông nói lớn (cốt cho tù nghe): "Các anh trại viên dưới kia cũng là anh em một nhà, đâu phải kẻ thù mà các đồng chí tập trung đông đảo và lằm lằm súng đạn coi dữ dằn quá vậy?  Thôi, các đồng chí về nghỉ đi, tôi cần tâm sự riêng với anh em trại viên"!  Ôi chao, đã hơn ba năm ròng rã bị kềm kẹp, bị sỉ nhục, bị hành hạ đủ thứ bây giờ nghe câu nói ngọt ngào ấy, thấy thái độ thân thiện ấy của "cán bộ trung ương" anh em tù hết sức xúc động.  Sau một hồi tâm tình toàn chuyện anh em một nhà, máu đó da vàng, con Rồng cháu Tiên…ông ta đi thẳng vào vấn đề: "Báo cáo các anh rõ là bọn bành trướng Trung quốc đang xâm lược nước ta.  Chúng xua hàng chục sư đoàn vượt biên giới tàn phá đất nước ta, giết hại nhân dân ta.  Quân và dân ta đang chống trả mãnh liệt, gây cho chúng tổn thất nặng nề…
Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu.
Chắc các anh cũng biết rồi, Tàu là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta, đã đô hộ dân tộc ta trên một ngàn năm, hiện nay chúng lại đang trắng trọn xâm lược nước ta thêm một lần nữa.  Cùng là con dân Việt Nam, tôi nghĩ các anh cũng không thể tha thứ bọn bá quyền cướp nước nầy.  Bây giờ nếu Đảng cần, các anh có sẵn sàng cầm súng ra mặt trận chống ngoại xâm không?" Hội trường đang im ắng bỗng nhốn nháo như vỡ chợ.  "Một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên…" lúc đầu còn rụt rè nhưng sau đó gần cả ngàn tù nhân đứng lên la lớn "Tôi tình nguyện"! "Tôi xung phong"!  Biên giới giữa cán bộ và tù trong giây phút nầy gần như không còn.  Làn ranh giữa kẻ chiến thắng và người chiến bại tiêu tan.  Ý thức hệ giữa cộng sản và tự do biến mất... Mọi Người Việt Nam có mặt hôm đó "bừng bừng khí thế" sẵn sàng cùng nắm tay nhau chống giặc Tàu xâm lăng!  Nhưng, chuyện tù cầm súng chống ngoại xâm không bao giờ xẩy ra.  Điều tôi muốn nói ở đây là tình yêu nước thương nòi luôn tiềm ẩn trong lòng mọi người Việt Nam bất luận chính kiến và thành phần xã hội, dân tộc.  Tôi tin là cộng sản Việt Nam cũng biết như thế.  Nếu có thực tâm và thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc, họ đã khai thác điều nầy sớm, ngay sau ngày "giải phóng" Miền Nam thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ ba chục năm nay, không cần phải đợi đến giờ nầy mới kêu gọi, và kêu gọi cũng chẳng ai tin.  Những người có kinh nghiệm với CS giải thích rằng "cán bộ trung ương" nầy đã thực thi thủ đoạn chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh động lòng yêu nước của anh em tù nhân để tránh "nội công" có thể xẩy ra trong khi đang phải đối đầu với "ngoại kích" tại vùng biên giới.  Sau khi tình hình ổn định, đa số anh em phải "đền tội" trên dưới một thập niên mới được "khoan hồng". Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu. Đây là điều xúc phạm nặng nề đến tình cảm quê hương, dân tộc thiêng liêng nhất của tất cả người Việt Nam.  Nếu chủ nghĩa cộng sản đem lại tự do, bình đẳng, cơm no áo ấm cho mọi người Việt Nam thì cũng được đi, nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại.  Ở đâu có cộng sản, ở đó có áp bức và đói nghèo.  Dù muốn hay không cũng phải công nhận kinh tế Việt Nam, so với hai thập niên trước, đã tiến bộ vượt bực.  Do đâu?  Do "đổi mới"!  Không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam giải thích hiện tượng nầy như thế nào, tại sao "đổi" thì khá, không "đổi" không khá?  Người ngoài ai cũng thấy "cộng sản pha loãng" ít độc hại hơn "cộng sản đậm đặc", cái mới hiện nay phải tốt hơn hẳn cái cũ (chủ nghĩa cộng sản giáo điều) mới được như thế.  Sự tốt đẹp và hay ho của chủ nghĩa cộng sản ở chỗ nào?  Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn "kiên trì" theo chủ nghĩa cộng sản, "quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa!  Theo tài liệu phổ biến công khai trên thế giới hiện nay, từ ngày xuất hiện trên trái đất, chủ nghĩa cộng sản đã cướp đi mạng sống của trên dưới một trăm triệu sinh linh.  Nhân danh chủ nghĩa nầy, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã tàn sát cỡ một triệu người Việt Nam vô tội!  Tại Liên Sô và Đông Âu, nơi được coi là cái nôi của chủ nghĩa cộng sản, người ta loại bỏ chủ nghĩa nầy vì tội ác diệt chủng và chống nhân loại của nó. Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm vận dụng thủ đoạn chính trị và bạo lực để buộc dân tộc Việt Nam chấp nhận con đường đó.  Đây là điều cực kỳ phi lý, cực kỳ phản động.  Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc của họ cũng theo điều kiện phi lý và phản động nầy nên các thành phần Việt Nam khác không thể chấp nhận được.

Trong bài viết "Nan đề nào? Nan đề cho ai?", nhà thơ, nhà văn, nhà đấu tranh cho tự do-dân chủ nổi tiếng trong nước Tiêu Dao Bảo Cự đã viết: "Hòa giải hòa hợp dân tộc không phải là chuyện độc quyền của nhà nước cộng sản khi họ đề ra chủ trương này.  Thời gian gần đây, ai nói đến hòa giải hòa hợp thường bị những người chống cộng quy ngay là tay sai cộng sản, ủng hộ cộng sản.  Thế thì cộng sản đã chiếm thế thượng phong vì tự nhiên họ được thêm rất nhiều đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn" (Talawas và Đàn Chim Việt).  Tôi xin có ý kiến hơi khác:  Để có được hòa hợp hòa giải dân tộc mọi bên phải có thiện chí, nhưng không có thiện chí nào quan trọng, có tính quyết định, bằng thiện chí của giới cầm quyền.  Hơn ai hết, nếu không nói độc quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là kẻ tỏ thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc trước vì họ là thế  lực chính trị mạnh nhất (có thể nói là không có đối thủ), đang nắm chính quyền, có đủ khả năng và điều kiện để kết hợp mọi thành phần dân tộc NẾU họ làm cho người khác tin được chủ trương nầy của họ là vì tình cảm dân tộc, vì nhu cầu sinh tử của quốc gia, không phải là một cạm bẩy chính trị để  khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác.
Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước!  Làm sao "xóa bỏ hận thù" và "đoàn kết" khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố "Yêu nước có nhiều cách", (không cần phải "Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam. Nhưng gần đây ông lại nói: "Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng"!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!
Trong nước, ngoài chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đa số dân chúng đang mãi mê kiếm sống, kiếm tiền bằng mọi cách; trí thức thì cầu an, cam phận; thông tin báo chí thì chỉ là công cụ của đảng; một số lãnh đạo các tôn giáo, rất ít trí thức cùng các cựu đảng viên cộng sản thức thời và can đảm lên tiếng thì bị trù dập, bắt bớ tù đày…Ai đủ khả năng thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc?  Hải ngoại, tuy là đối lực chính trị đáng ngại nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ai đủ tư cách, khả năng và thẩm quyền để làm chuyện nầy?  Hòa hay chiến là do kẻ đang thủ đắc vũ khí, chiếm thế thượng phong tỏ thái độ và thiện chí trước.  Người tay không yếu thế mà tỏ thái độ cầu hòa trước thì chỉ là sự đầu hàng!  Có hai loại hòa hợp hòa giải dân tộc: trá hình và thật sự.  Không hiểu ông Tiêu Dao Bảo Cự nói đến loại hòa hợp hòa giải dân tộc nào, loại cùng nhau quy phục dưới trướng cộng sản Việt Nam hay loại bình đẳng dân tộc?   Và loại nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam "được thêm rất đông đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn"?

Khi nói đến hòa hợp hòa giải dân tộc, không phải người Việt Nam chống cộng nào cũng tẩy chay.  Ngoài một thiểu số chống cộng theo cảm tính, đại đa số người Việt Nam vẫn mong ước có hòa hợp hòa giải, nhưng phải có bình đẳng dân tộc mới được.  Nhóm chủ trương "không hòa hợp hòa giải với Việt Cộng bất kỳ dưới hình thức nào" có thể bị chê là phi thực tế, nhưng khó mà trách họ khi họ không chấp nhận hòa hợp hòa giải kiểu đầu hàng.  Điều kiện phải có trước khi nói chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc là cộng sản Việt Nam phải thay đổi chủ trương.  Nếu họ vẫn duy trì những thủ đoạn chính trị để khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác, sẽ không bao giờ có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Ngược lại nếu họ từ bỏ bạo lực, chấm dứt sự lật lọng, chứng tỏ thiện chí bằng những việc làm cụ thể, chấp nhận và tôn trọng những thành phần dân tộc khác thì hòa hợp hòa giải dân tộc sẽ đến.  Hiện nay, có thể nói, vì đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với Việt Cộng nên không ai còn dám tin họ nữa. Muốn lấy lại niềm tin nơi mọi người, Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự mình trả lại cho dân tộc Việt Nam những thứ quyền, những thứ tự do mà họ đã tước đoạt bấy lâu nay.  Một khi chính quyền đã tôn trọng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng…, nghĩa là có sinh hoạt dân chủ, đa nguyên thì mới có thể nói chuyện hòa hợp hòa giải trong tinh thần bình đẳng dân tộc được.

Vậy, chừng nào có được hòa hợp hòa giải dân tộc thật sự?

Nhìn về sinh hoạt chính trị trong nước, không khó khăn tí nào để nhận biết "thiện chí" của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Để tổ chức Hội Nghị APEC, và để vào được WTO, họ "nuôi" những cá nhân, đoàn thể đấu tranh, làm như Việt Nam có tự do dân chủ để đánh lừa các chính khách quốc tế, kể cả Tổng Thống Mỹ.  Nhưng sau khi tổ chức thành công Hội Nghị APEC và vào được WTO họ ra tay "thịt" các thành phần yêu nước nầy!  Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước! Làm sao "xóa bỏ hận thù" và "đoàn kết" khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố "Yêu nước có nhiều cách", (không cần phải "Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam.  Nhưng gần đây ông lại nói: "Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng"!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!

Ngoại trừ những người Việt Nam cộng sản vong quốc, chỉ có những kẻ ngu mới nghe lời chiêu dụ của cộng sản. Chúng ta nhất quyết cùng nhau đấu tranh kiên trì và mạnh mẽ để buộc CSVN chấp nhận những thành phần dân tộc khác.  HHHG chỉ có thể xẩy ra trên tinh thần dân chủ đa nguyên, không thể xẩy ra dưới trướng của ĐCSVN được! 

 Định Nguyên

2015/09/10

Trả lời về Luật TBOC Chapter 22 Liên quan đếnThành lập Công ty Bất vụ lợi

Trả lời về Luật TBOC Chapter 22 Liên quan đến
Thành lập Công ty Bất vụ lợi

Kính bạch quý chư tôn đức, quý cư sĩ, và quý phật tử:

Khi tôi lên tiếng về việc Steven Dieu đăng ký biến GHPGVNTN trở thành một công ty vô vị lợi thì có người nói rằng am hiểu về luật pháp trình bày bộ Luật Texas Business Organizations Code Chapter 22. Tôi xin thưa, cái người gọi là "am hiểu luật pháp" đó trông gà hóa quốc, đọc một đường, hiểu một nẻo, nói năng sai lạc vô cùng, hoặc hiểu mà cố tình diễn dịch sai lạc để đạt một ý đồ đen tối.

Con xin cúi đầu đảnh lễ các chư tôn đức bằng cách cho đăng nguyên văn bộ luật này ở những phần liên quan đến các nhà thờ và chùa chiền để cho mọi người cùng đọc để cùng nhận diện rõ bộ mặt thật của họ.

Trong tiếng Anh, khi gọi "Church" viết hoa  nghĩa là Giáo Hội thì đó là một tôn giáo (religion). Hiến pháp Hoa Kỳ ngay từ khởi đầu đã tách lìa quyền đời và quyền đạo, nghĩa là Tôn Giáo, hay "Church" có quyền độc lập với chính phủ, không phải đăng ký với chính phủ. Có ai thấy Giáo Hội Công Giáo Rome, Giáo Hội Episcolian, Giáo Hội Muslim, v.v., đi đăng ký với chính phủ Mỹ không?

Nhưng khi chữ "church" không viết hoa, nghĩa là nhà thờ hoặc nhà chùa, thì nhà thờ và nhà chùa đó  và các đoàn thể trong nhà thờ và nhà chùa đó, để được miễn thuế và chứng nhận cho những người đóng góp được miễn thuế, thì nhà thờ và nhà chùa đó có quyền (không bắt buộc) đăng ký với tiểu bang. Nhưng, để đăng ký với tiểu bang,  nhà thờ đó phải có By-Laws trước, và By-Laws không được đi ngược lại với tôn chỉ và mục đích của Giáo Hội hay gọi là tôn giáo mà nhà thờ đó trực thuộc. Đây là điều quy định rõ ràng trong Bộ Luật Texas Business Organizations Code Chapter 22.

Giáo Hội Phật Giáo VNTN khẳng định là một tôn giáo, là một Giáo Hội, không phải là một ngôi chùa. Hiểu rõ từ ngữ như vậy thì nếu cần đăng ký thì chỉ đăng ký Chùa Phật Quang chớ không đi đăng ký cả một GHPGVNTN. Chùa Phật Quang cũng phải có By-Laws quy định mình là phần tử của GHPGVNTN. Một luật sư như Steven Dieu, nếu không rành về luật thương mại, luật hình, luật hộ, luật thành lập công ty, luật liên quan đến các chùa chiền nhà thờ thì hãy đi tìm những luật sư chuyên ngành, đừng có mà đăng ký ẩu biến GHPGVNTN trở thành một hiệp hội nhỏ nhoi như một ngôi thánh đường hoặc một nhà chùa.

Kế tiếp, Board of Directors có nghĩa là Hội Đồng Chỉ Đạo. Hội Đồng Quản Trị tiếng Anh gọi là Chief Executive Officer (CEO). Hội Đồng Chỉ Đạo là cơ quan tối cao quyết định vận mệnh của công ty. Hội Đồng Chỉ Đạo của cơ quan bất vụ lợi không lãnh lương hoặc thù lao. Hội Đồng Chỉ Đạo bầu chọn ra một CEO. Với sự chấp thuận của Hội Đồng Chỉ Đạo, CEO chọn một Ban Điều Hành. CEO và Ban Điều Hành có quyền nhận thù lao. Trường hợp này chúng ta thấy rất rõ ở những cơ quan từ thiện như Red Cross. 

Đức Tăng Thống không bao giờ có ý định biến GHPGVNTN trở thành một công ty bất vụ lợi, một ngôi chùa nhỏ nhoi như phe Giác Đẳng đang tung hỏa mù. Ngài chỉ muốn Giáo Hội làm theo đúng luật, và Hiến Pháp của Mỹ từ thưở lập quốc đã quá rõ ràng, đạo và đời tách biệt ra. Còn nếu phải đi đăng ký, chỉ có các chùa mới đi đăng ký, và ngay từ lúc đầu phải có By-Laws khẳng định chùa là thành viên của Giáo Hội PGVNTN và phải tuân khâm theo Hiến Chương của GHPGVNTN.

Một khi một công ty bất vụ lợi phải giải tán thì phải qua giai đoạn khai phá sản, việc đầu tiên của thủ tục khai phá sản đó là công ty bất vụ lợi phải trả hết nợ những người mà công ty mượn. Sau khi trang trải overhead và những nợ nần, nếu còn dư, thì tài sản còn dư mới trao cho một cơ quan bất vụ lợi khác. Trường Hợp Chùa Phật Quang, nợ nần còn ngất trời, sao mà dư để mà trao cho một cơ quan thiện nguyện khác.

Đã mưu đồ bậy bạ làm nhưng chuyện mờ ám rồi bây giờ tìm cách bóp méo luật pháp để mà chạy tội rồi còn hù dọa những người nhẹ dạ với ỷ tưởng mong rằng Phật tử vì sợ mất tài sản sẽ tha thứ cho họ để họ tiếp tục tổ chức Đại Hội ở Bắc Cali dàn dựng đưa Giác Đẳng lên làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo. 

Luật Texas Business Organizations Code Chapter 22 (TBOC) bắt buộc phải có phiên họp của Hội Đồng Quản Trị, thông qua một Nghị Quyết thay đổi hoặc thêm bới nhân sự, nhưng thử hỏi Thích Giác Đẳng có Nghị Quyết này không để nộp cho tiểu bang khi mà đưa thêm 6 người vào Hội Đồng Chỉ Đạo mà Steven Dieu là Chủ Tịch tức là "Tăng Thống"?

Còn nhiều sai lầm của Steven Dieu và Giác Đẳng lắm. Càng viết càng lòi cái đuôi một là dốt hai là đầy dẫy âm mưu đen tối. Đừng tưởng ai cũng dốt nát mà tha hồ múa gậy vườn hoang. Cha nó có lú thì con có chú nó khôn. Tôi chỉ là một phật tử bé mọn, nhưng tôi quyết tâm sẽ bảo vệ GHPGVNTN cho tới hơi thở cuối cùng, và kẻ nào âm mưu phá hoại GHPGVNTN thì tôi sẽ vạch mặt ra cho mọi người nhận thấy.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính mong quý bậc chư tôn đức, quý cư sĩ, và quý phật tử thông cảm cho những lời cay nghiệt của con đối với Thích Giác Đẳng mà con coi như một ma tăng phá nát GHPGVNTN.

Phật Tử Quan Tâm