*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2012/08/03

Tại sao viết về chính trị?


Nguyễn Hưng Quốc

Ở các cuộc gặp gỡ với bạn bè cũng như với độc giả trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, một trong các câu hỏi tôi nghe nhiều nhất là: Tại sao mấy năm gần đây tôi lại quay sang viết về chính trị, hơn nữa, càng ngày càng viết nhiều về chính trị?

Câu trả lời của tôi, rất đơn giản, thế này: Với người cầm bút lưu vong, việc viết về chính trị là điều bình thường. Gần như là tự nhiên. Đáng lẽ nó không gợi nên bất cứ một thắc mắc nào cả.

Có ba lý do chính.

Thứ nhất, lưu vong, đặc biệt lưu vong của người tị nạn, tự bản chất, là một sự lựa chọn chính trị. Có người ra đi vì chính trị, vì những đe dọa bắt bớ, tù đày, thậm chí, hãm hại; nhưng cũng có người ra đi chỉ vì những khó khăn và bế tắc về kinh tế; nhưng dù bất cứ lý do gì đi nữa, việc quyết định rời khỏi đất nước để sống hẳn ở hải ngoại cũng vẫn là một lựa chọn mang tính chính trị. Đó không phải chỉ là sự lựa chọn giữa hai công việc hay hai địa điểm cư trú mà còn là sự lựa chọn giữa hai quốc gia, hai thể chế, hai tương lai, hai cái nơi mình sẽ được nằm xuống trong chuyến đi lần cuối. Với bất cứ người nào, sự lựa chọn như thế cũng đều quan trọng. Với người Việt Nam, vốn không hề có truyền thống phiêu lưu và vốn có tâm lý gắn bó với cái gọi là quê cha đất tổ, sự lựa chọn ấy lại càng quan trọng. Chắc chắn đó là một trong những lựa chọn quan trọng nhất trong đời.

Thứ hai, trước một lựa chọn như thế, người ta không thể không dằn vặt, không day dứt. Sự dằn vặt và day dứt ấy sẽ còn lại mãi. Như một ám ảnh không nguôi. Một trong những nét tâm lý nổi bật của những người lưu vong được giới nghiên cứu đề cập đến nhiều nhất là tâm lý bất an, lúc nào cũng thấy lạc lõng, không bám vào một không gian nhất định nào cả. Với quê gốc, đã xa lắc, người ta không muốn hoặc không thể trở về hẳn. Với quê khách, nơi người ta đang sống và có lẽ sẽ sống đến cuối đời, người ta mãi mãi thấy xa lạ. Người ta sống ở đây mà không ngớt hướng về bên nọ. Tâm lý của người lưu vong là tâm lý ở-giữa (in-between). Giữa hai quốc gia và hai nền văn hóa. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và ước mơ. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những người lưu vong, thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng bị ám ảnh về chính trị ở quê nhà. Cứ gặp người lưu vong là lại nghe chuyện chính trị.

Trước khi chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu sụp đổ, những người lưu vong đến từ Nga và Đông Âu, ở Tây phương, cũng túm tụm với nhau, trong các quán cà phê, ngày này sang ngày khác, bàn chuyện chính trị như thế. Người Việt Nam cũng không khác. Ghé bất cứ quán cà phê Việt Nam nào ở ngoại quốc, đặc biệt ở California, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy những người khách quen thuộc, dường như đến đó mỗi ngày, chỉ để bàn mỗi một chuyện: chính trị Việt Nam. Mà đó hẳn không phải là ngoại lệ. Cứ quan sát các bữa ăn chung với bạn bè trong nhà mà xem. Đề tài phổ biến nhất cũng vẫn là chuyện chính trị. Có thể nói, rời khỏi quê hương, bất cứ người lưu vong nào cũng bị siết chặt bởi vòng kim cô chính trị. Không thể thoát được.

Thứ ba,
chính trị không phải chỉ là một chọn lựa bước đầu hay một ám ảnh không dứt; với người lưu vong, chính trị còn gắn liền với ý niệm về bản sắc, nghĩa là, nói cách khác, chính trị trở thành một yếu tố có tính bản thể luận để định nghĩa mỗi người, để giải thích lý do tại sao người ta lại sống (và chết) ở đây chứ không phải là bất cứ nơi nào khác. Ngày xưa, Aristotle từng nói: con người là một con vật chính trị. Câu nói ấy càng đúng với người lưu vong: Mỗi người lưu vong nhất thiết phải là một con vật chính trị. Người lưu vong nào, nhất là những người lưu vong thuộc thế hệ thứ nhất, tuyên bố mình không quan tâm đến chính trị, không hề nghĩ đến chính trị, người ấy đang nói dối hoặc đang tự đánh lừa mình. Sự thực, khi bản sắc của họ được định nghĩa bằng chính trị; họ không thể thoát được chính trị. Trừ phi họ muốn tự phủ nhận chính họ.

Với ba lý do ấy, không có gì lạ khi một người cầm bút lưu vong bàn đến chính trị. Đó là phản ứng tự nhiên và bình thường. Với họ, chỉ có việc né tránh chính trị mới là một cố gắng đầy ý thức một cách không tự nhiên và không bình thường. Xin nói ngay: cái gọi là "không tự nhiên" và "không bình thường" ở đây nên được hiểu từ góc độ tâm lý. Chứ không phải là đạo đức học. Tức không gắn liền với hàm ý phê phán nào cả. Đó chỉ là một chọn lựa của từng cá nhân. Mỗi chọn lựa đều có những lý do nhất định. Trong một xã hội dân chủ, chúng ta hoàn toàn tôn trọng những lựa chọn như thế. Hơn nữa, từ góc độ văn học và nghệ thuật, không có chọn lựa nào đúng hơn chọn lựa nào. Người cầm bút chỉ nên được đánh giá ở kết quả cuối cùng: Tác phẩm. Và tác phẩm chỉ nên được đánh giá từ một tiêu điểm: thẩm mỹ.

Nói né tránh chính trị là một lựa chọn có ý thức cũng có nghĩa là muốn nói: Đó chỉ là chuyện bên ngoài. Sâu trong tiềm thức và lẩn khuất trong từng giấc mơ của mỗi người lưu vong bao giờ cũng có những con ma chính trị không ngừng gào thét.

Sự khác biệt giữa người này và người khác, cũng như, ở mỗi người, giữa thời điểm này và thời điểm khác, chỉ ở cách thế hành xử với những con ma ấy mà thôi.

http://bit.ly/NWKy18

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

2012/08/02

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!


Ts. Đặng Huy Văn

Ngày 30/7/2012, cư dân mạng cả trong và ngoài nước bất ngờ nhận được tin tự thiêu của bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của chị Tạ Phong Tần, một nhà báo tự do đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam đã được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) trao giải thưởng vì nhân quyền năm 2011. Bà Liêng đã qua đời khi đang trên đường tới bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu. Theo những người con của bà Liêng cho biết, trước khi quyết định tự thiêu cạnh trụ sở UBND TP Bạc Liêu, bà rất bức xúc vì con gái bà, chị Tạ Phong Tần đang bị giam giữ trái pháp luật và sắp bị đưa ra tòa xét xử ngày7/8, cùng với việc chính quyền Bạc Liêu đã cấp sổ đỏ cho kẻ đã chiếm dụng bất hợp pháp mảnh đất của gia đình bà mà bà khiếu nại nhiều lần nhưng không được chính quyền giải quyết.

Sáng nay, ngày 2/8/2012, gia đình cùng nhân dân sẽ tiễn đưa bà về cõi Phật nên tôi viết bài này như một nén tâm nhang kính viếng hương hồn người Phật tử đáng kính.

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!
...
Bà Liêng ơi!

Hôm nay ngày 2/8
Cả nước yêu thương đưa tiễn trái tim bà
Về Cõi Phật nơi trời cao xanh thẳm
Để cứu người bất hạnh Việt Nam ta!

Xin bà lạy Đức Phật Tổ A Di Đà
Hãy thương lấy các con dân nước Việt!
Nếu phải tiếp tục sống lầm than
Xin Người cho được chết
Để cứu độ chúng sinh
Cùng phúc đẳng hà sa!

Xin các phật tử hãy tụng kinh
Đưa tiễn bà Liêng về Cõi Phật!
Cầu Quốc Thái Dân An
Cho cả nước Việt Nam ta!
Diệt hết lũ độc tài
Không còn phường tham nhũng
Đánh đuổi bọn bán nước buôn dân
Quét sạch giặc Tam Sa(*)
Để không còn những bà mẹ
Vì dân oan mà tuẫn tiết
Không còn những người yêu tự do
Bị bắt bớ, ra tòa!


Bà Liêng ơi!

Hôm nay không phải
Chỉ có Tạ Phong Tần đau
Mà tất cả chúng tôi đau!
Không phải chỉ có con cháu bà phẫn uất
Mà cả dân tộc này phẫn uất!
Cái chết của bà
Là tiếng kêu Thiêng Liêng nhất
Để 91 triệu dân cùng xiết chặt tay nhau
Đạp đổ chế độ tham nhũng độc tài
Tay sai của giặc Tàu xâm lược
Con thuyền dân chủ, tự do
Ngày cập bến chẳng xa đâu!


Bà Liêng ơi!

Con cháu bà hôm nay
Không còn nước mắt để khóc
Cho người mẹ, người bà
Đã quá đỗi thân thương!
Vì căm hận lũ quan tham
Từ trung ương đến mọi miền đất nước
Đang vì tiền mà tiếp tay cho kẻ gian
Khắp quận, huyện, thôn, phường...


Ngày 7/8 này

Tạ Phong Tần và các bạn chị sẽ ra giữa pháp trường
Dù mẹ đã mất nhưng vẫn còn dân cả nước yêu thương
Sẽ tiếp cho chị và bạn bè thêm sức mạnh
Để có thể hét thật to vào mặt lũ bất lương:

"Đã đảo những kẻ bán rẻ Biển Đông cho Hoa cộng!
"Những kẻ dày xéo dân ta trải mấy chục năm trời
"Giờ đã đến lúc bọn bay phải cáo chung cơ chế
"Tham nhũng, độc tài, thối nát tanh hôi!"


Bà Liêng ơi!

Xin chúc bà được bình an khi trở về Cõi Phật!
Từ những oan trái, bất công, gian dối của cõi người
Bà đã để lại cho đời Tạ Phong Tần đẹp nhất!
Người con gái nhân hậu, can trường
Đã chiếm trọn trái tim tôi!


Hà Nội, sáng 2/8/2012
Ts. Đặng Huy Văn

----------------------

(*) "Giặc Tam Sa": Ngày 24/7/2012, bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh đã ngang ngược ra mắt cái gọi là "thành phố Tam Sa" bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bất chấp Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc Hội thông qua ngày 22/6/ 2012 đã ghi ngay trang đầu: Hoàng Sa , Trường Sa là của Việt Nam.

Ý nghĩa xâu chuỗi hay tràng hạt


Thích Phước Thái

Hỏi: Là một Phật tử tu theo pháp môn niệm Phật, con thường lần tràng hạt để niệm Phật. Tuy nhiên, thú thật là con chưa hiểu rõ ý nghĩa của nó như thế nào. Tại sao phải xâu kết làm 108 hạt, mà không phải là 107 hay 109? Như vậy, 108 có ý nghĩa gì? Và tại sao khi niệm Phật, tay cần phải lần chuỗi? Nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?
Đáp: Tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện khác. Trong Phật giáo có vô số phương tiện. Mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.
Thí dụ như cái mõ, cái chuông, cái trống v.v… Điều quan trọng cần nêu ra là: Nương phương tiện để đạt cứu cánh, tức như nhờ nôm mà bắt được cá, nhờ ná mà bắn được chim. Nếu nói theo cung cách ngôn ngữ của nhà Thiền thì "kiến sắc minh tâm". Nói cách khác là: "nương sự để hiển lý, sự lý phải viên dung". Đó là cái chủ đích chính yếu mà Phật giáo nhắm tới và đó cũng là thái độ khôn khéo của người tu học Phật.

Câu hỏi thứ nhứt là tại sao người ta xâu chuỗi kết 108 hạt mà không phải 107 hay 109 ?

Xin thưa:  sở dĩ có con số 108, là vì người ta đem 6 căn, 6 trần và 6 thức cộng lại, thành ra thập bát giới (18) rồi nhân cho 6 món căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) thành ra có con số là 108 (18 x 6  = 108). Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi cũng xin được giải thích thêm một chút về con số 108 tượng trưng nầy.
Như chúng ta đều biết, trong khế kinh Phật có dạy, sở dĩ chúng sanh cứ trôi lăn mãi trong vòng sanh tử luân hồi, gốc từ ở nơi vô minh. Mà vô minh có ra, gốc từ ở nơi căn, trần và thức. Thường gọi chung là Thập bát giới.
Ba thứ nầy, nếu xét kỹ, thì chúng ta thấy, lỗi là ở nơi căn và thức, chớ trần (6 trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) không có lỗi gì cả, vì chúng chỉ là đối tượng nhận thức của căn và thức mà thôi. Khi căn (tức 6 căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với trần (6 trần nói trên) khởi thức (6 thức nói trên) phân biệt. Khi ý thức phân biệt lại cộng thêm 6 món căn bản phiền não vào. Nói rõ hơn là 6 món căn bản phiền não nói trên, chúng hợp tác cùng chung làm việc với Ý thức một cách rất chặt chẽ, đắc lực, nên mới có phân biệt tốt xấu, rồi sanh  tâm yêu ghét. Cái niệm yêu ghét phát sanh là gốc từ ở nơi: tham, sân, si. Đây là đầu mối của vô minh phiền não (vọng tưởng) .
Từ đó, mới tạo nghiệp để thọ khổ. Nếu nói một cách nghiêm khắc và ngắn gọn hơn nữa, thì như kinh Lăng Nghiêm, Phật có nêu ra: "luân hồi hay giải thoát, gốc từ ở nơi 6 căn mà ra". Như vậy, cho chúng ta thấy rằng, ba thứ nầy tối hệ trọng mà mỗi hành giả cần phải thẩm sát thật kỹ để đoạn trừ phiền não. Mà muốn đoạn trừ phiền não, thì hành giả cần phải có phương tiện, hay một pháp môn hành trì. Đối với người tu tịnh nghiệp, thì Phật Tổ đều dạy cần phải niệm Phật. Mà pháp môn niệm Phật, để đi đến nhứt tâm, thì bước đầu cần phải có phương tiện để cột tâm. Phương tiện đó, ngoài câu niệm Phật ra, còn cần phải có thêm tràng hạt để lần từng hạt theo mỗi câu hiệu Phật làm chuẩn cứ trong khi niệm Phật công cứ vậy.

Đến câu hỏi thứ hai, tại sao khi niệm Phật, tay phải lần chuỗi?

Xin thưa rằng: không phải nhứt thiết ai niệm Phật cũng lần chuỗi cả. Điều nầy, còn tùy theo căn tánh và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những liên hữu nào đã phát nguyện niệm Phật công cứ, theo lời chư Tổ Liên tông đã chỉ dạy, thì cần nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng như chúng ta, tâm chưa thuần nhứt, còn dẫy đầy vọng tưởng tạp loạn, thì tốt hơn hết nên dùng phương tiện tay lần chuỗi, để khi niệm Phật dễ cột tâm hơn, như trên đã nói. Hơn nữa, chúng ta cũng thường nghe nói, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Rồi cũng trong kinh nói:"Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương". Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là để ghi nhớ số không lộn lạo vậy.

Đến câu hỏi thứ ba, nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?

Xin thưa: đương nhiên là có. Như trên đã nói, công dụng của nó chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, nghĩ xằng, tính bậy, chạy đông, chạy tây, thì đó chỉ là miệng niệm cho có niệm, chứ không thể nào kết quả định tâm được.
Mục đích chính của việc niệm Phật là để được định tâm. Vì niệm Phật là nhớ Phật, đằng nầy Phật không nhớ, mà nhớ những chuyện tào lao khác, niệm như thế, thì đâu có đúng ý nghĩa niệm Phật. Thế nên, muốn sớm mau hết phiền não, thì hành giả phải giữ tâm và tiếng cho hợp nhất và phải thường xuyên khắn khít nhau, đồng thời niệm câu hiệu Phật phải thật cho rành rõ. Trong quyển sách Hạ Thủ Công Phu niệm Phật, Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có khuyến nhắc người niệm Phật bằng một bài kệ như sau:
Nam mô A Di Đà! 
Không gấp cũng không hưởn 
Tâm tiếng hiệp khắn nhau 
Thường niệm cho rành rõ 
Nhiếp tâm là định học 
Nhận rõ chính huệ học 
Chánh niệm trừ vọng hoặc 
Giới thể đồng thời đủ 
Niệm lực được tương tục 
Đúng nghĩa chấp trì danh 
Nhứt tâm Phật hiện tiền 
Tam muội sự thành tựu 
Đương niệm tức vô niệm 
Niệm tánh vốn tự không 
Tâm làm Phật là Phật 
Chứng lý pháp thân hiện 
Nam Mô A Di Đà! 
Nam Mô A Di Đà! 
Cố gắng hết sức mình 
Cầu đài sen thượng Phẩm.
Thích Phước Thái