*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/10/06

Việt Nam Đi Về Đâu?

Việt Nam Đi Về Đâu?
 hỒ tẤn vinh
Đây là câu hỏi mà ai có suy tư về đất nước đều có khi tự hỏi mình.
Đây là nói chuyện tương lai.
Có những sự kiện ta có thể dựa vào mà tiên đoán không sai.
Có những cái ta không thể nào biết trước được.
 
Chủ nghĩa CS là sai lầm. Đây không phải là vấn đề ý thức hệ trừu tượng hay triết lý mông lung gì cả. Đây chỉ là vấn đề thiết thực của chén cơm mà thôi. Chủ nghĩa CS cản trở phát triển kinh tế, vì vậy chế độ CS ở Việt Nam sẽ phải bị thay thế. Đó là điều chắc chắn.
Trong quá trình thành lập chế độ CS ở Việt Nam, Việt Cộng đã giết quá nhiều nhà ái quốc và thường dân vô tội. Không thể nào những cái chết đó không ray rứt từng giờ từng phút lương tâm của người CS. Mặc dầu thân xác đã trở thành cát bụi, nhưng những hạt bụi tức tưởi đó đã dính vào bàn tay mà kẻ phạm tội nếu không có lòng thành khẩn không dễ dàng phủi đi. Người CS phải ăn năn và xin tội với nhân dân. Không ai có khả năng chỉa súng vào đầu người CS để bắt họ làm chuyện đó. Nhưng để có một chỗ đứng 'làm người' trong Chánh Sử thì đó là chuyện bắt buộc họ sẽ phải làm.
Sám hối dưới hình thức nào và khi nào thì chưa thể biết được.
 Lúc đầu thế kỷ, vì chưa va chạm vào thực tế, chủ nghĩa CS có thể tự gạt mình và gạt luôn thiên hạ, nhưng bây giờ thì cả thế giới ai cũng biết chủ nghĩa CS là sai. Cho nên dầu bề ngoài còn làm bộ nói cứng nhưng ngay chính người CS cũng biết mình là dõm. Vấn đề là họ có phải ôm cái sai lầm đến hết cuộc đời mình hay công khai hóa lúc còn sống.
Sám hối chỉ là cây thước đo chính họ. Coi ngày nay người CS có còn đủ can đãm đối diện với sự thật không?
Nếu họ làm được bây giờ thì ngay bây giờ họ cũng có thể hưởng được cái cảm giác kỳ diệu mà Đức Phật gọi là 'cái đáng phục nhứt của đời người' và một hai thế hệ sau, con cháu của họ khi nhắc đến họ đều có thể ngưỡng mộ.
Chẳng những vậy, chỉ khi nào có những dấu hiệu rõ rệt 'lãng tử hồi đầu' thì họ mới nhận được sự trợ giúp to lớn về trí lực và tài lực của người Việt hải ngoại. Thật ra, trước đây, vào những năm thập niên 80, người Việt hải ngoại có gián tiếp cứu sống CSVN qua số tiền gởi về giúp thân nhân. Nhưng đó chưa phải là sự trợ giúp tự nguyện, nhiệt tình và toàn lực. Một trợ giúp có ý thức ái quốc. Trợ giúp này to lớn đến mức nào, có thể chính người Việt hải ngoại cũng không ý thức hết tầm vóc tiềm lực của mình. Nhưng không có cái trợ lực này, chánh quyền Việt Nam đi đến đâu – dầu là đi thương lượng thương mại hay đi giao tiếp ngoại giao – vẫn mãi bị lép vế. Chỉ vì một lý do giản dị là quá khứ quá nặng nề nó đè cái đầu không thể ngẩng lên được. Chuyện thương lượng biên giới và hải phận với Trung Quốc là một bằng cớ.
Nếu họ chọn con đường dễ dàng cho mình và đùn cái gánh nặng đó cho những người CS hậu bối thì khi đó chính những con cháu của họ khi nhắc đến họ chỉ có thể tiếc nuối mà thôi.
Năm 1975, Việt Cộng có thể tự hào là đã đuổi người ngoại quốc ra khỏi và giành độc lập cho đất nước.
Nhưng ở các nước Bắc Phi thuộc địa của Pháp, Ben Bella đã giành được độc lập cho Algérie năm 1962, Vua Hassan II giành được độc lập cho Maroc năm 1956, Habib Bourghiba giành độc lập cho Tunisie năm 1956. Ba người này, không có ai là cộng sản cả. Nếu ở VN, CS không có xía vô thì người quốc gia đã giành hoàn toàn độc lập cho xứ sở từ lâu rồi và không phải tốn quá nhiều xương máu như đã phải chịu. Cho nên lấy cái 'giành được độc lập' mà hãnh diện là thấy như vậy mà không phải như vậy.
Hằng năm, vào ngày 30 tháng 4, CSVN thường tổ chức diễn hành trước Dinh Độc Lập. Nhưng ngày đó không phải là ngày toàn dân ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Nam lo tìm đủ mọi cách để vượt biên không có ăn mừng. Ngày đó, Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát bị phỏng tay trên, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hối hận vô cùng, những người CS nằm vùng vỡ mộng, mấy người này không có ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Bắc chờ đợi miền Nam thắng trận để họ được giải phóng luôn không có ăn mừng. Ngày đó thật sự chỉ có hai triệu đảng viên CS, quân đội và công an ăn mừng. Ngày đó giống như ngày ăn cướp đánh được một nhà giàu rồi lấy rượu thịt trong nhà ra nhậu với nhau. Từ năm 1945, cái ngày mà toàn dân mơ ước để ăn mừng nhiệt liệt chưa có đến.
Sở dĩ chế độ CS ở VN được thành lập và cho tới giờ này còn tồn tại là vì mặc dầu chống cộng là một chánh nghĩa, nhưng chánh nghĩa đó đã bị bọn cơ hội lạm dụng.
Trước năm 1975, không cần bàn đến những chủ trương, đường lối xa xôi gì cả, chỉ nội cái cá nhân tham lam, hành xử kiêu căng, cái tâm địa tàn ác, triệt tiêu các người khác chánh kiến của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cái mua quan bán tước công khai, kết bè kết đảng  của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ là đủ bôi lọ chánh nghĩa quốc gia rồi. Họ là những người lãnh đạo cuộc tranh đấu, hằng triệu triệu người nhìn vào các cử động của họ. Họ là cái gương. Mà cái gương đã chiếu ra quá nhiều tư dục và dã tâm thì cái chánh nghĩa họ kêu gọi, ai mà tin. Không phải quần chúng vong ân bỏ rơi lãnh tụ. Chính lãnh tụ đã tự mình phản bội trọng nhiệm của một lãnh tụ.
Sau năm 1975, việc chống cộng phải bị tách ra một ngã khác. Vì không còn hệ thống chánh quyền quốc gia nữa, nên không còn mối lợi thầu độc quyền nữa, chuyện chống cộng thành những trận võ tự do nho nhỏ.
Các ông Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch đều là những người dũng cảm. Nhưng kế hoạch dùng vũ lực của họ từ nước ngoài về đã phải thất bại. Mỗi người trong chúng ta đều có thể lý giải những cái thất bại đó khác nhau, nhưng chúng ta đều có thể thấy và đồng thuận là dùng vũ lực từ nước ngoài về là thất bại.
Nếu dùng võ không được thì dùng văn xem sao. Ông Trần Văn Lắm, cựu Chủ tịch Thượng Nghị Viện VNCH lúc sinh tiền cho rằng Việt Cộng vi phạm Hiệp Định Paris nên phải đem Việt Cộng ra Tòa Án Quốc tế. Còn GS Nguyễn Ngọc Huy thì để hết tâm tư và thời gian cho đến chết để thành lập Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ VN Tự Do.
Thử lấy cái Ủy Ban này ra phân tách. Không dễ gì mời được một chánh khách tên tuổi vào Ủy Ban. Chắc chắn phải qua một sự giới thiệu hay dàn xếp sao đó, rồi phải hẹn hò, trình bày, thuyết phục thì mới mời người ta đuợc. Một hay hai năm sau cùng, mặc dầu bịnh ung thư đã phát rồi, Giáo Sư còn ráng qua Úc. Trong chuyến đi này, Giáo Sư đã được Thủ Lãnh John Howard của Đảng Tự Do lúc bấy giờ là Đảng Đối Lập tiếp kiến. Nhưng khi Giáo Sư mời John Howard vào Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ Việt Nam Tự Do thì John Howard từ chối. Tới giờ chót, Ủy Ban cũng mời được một số người ở Âu, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại.
Trong trường hợp mà GS Nguyễn Ngọc Huy không mất sớm và có thì giờ đi đây đi đó thì tối đa là Giáo Sư đi đến được một trăm nước và mời được một trăm ông Thủ Tướng, thì cái Ủy Ban đó là cái gì? Dạ thưa đó là Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bây giờ nếu Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhóm và biểu quyết rằng Việt Cộng là phiến loạn phải trao quyền lại cho người quốc gia thì sao?
Ngoại trừ có những bí ẩn động trời, chớ cái ý nghĩ rằng Việt Cộng sẽ run sợ một phán quyết của một Tòa Án Quốc Tế nào đó hay một cuộc biểu quyết của Đại Hội Đồng, rồi quỳ gối xuống dâng chánh quyền lên – là một ý nghĩ thật tình khó hiểu. Rồi ai dám về Hà Nội nhận cái bàn giao đó?
 Ta phải chia công cuộc chống cộng ra thành hai chủ  trương. Một chủ trương lật đổ chế độ CS và một chủ trương lên án CS.
CS Việt Nam là ngụy, nhưng họ đang có quyền lực. Lính CS biết bắn súng. Muốn lật đổ họ thì đối thủ cũng phải có một lực lượng. Lực lượng này có thể là một ngoại lực hay nội lực. Kẻ nào chọn dùng ngoại lực thì dầu có thành khẩn tới đâu rồi cũng có nguy cơ bán nước nhiều hơn là cơ may cứu nước. Tuy nhiên, ta chưa đến giai đoạn đó. Từ ba mươi sáu năm nay ta chỉ mới đi lòng vòng để không đi đến đâu.
Năm xưa, hồi thời chống Pháp, Việt Nam có hai đảng phái lừng danh. Đó là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng. Lúc khởi thủy, hai đảng này dùng hoàn toàn nội lực, và người Việt lớn hay nhỏ gì khi nghe nhắc đến hai đảng này đều tỏ ra vô cùng khâm phục. Sau năm 1975, khi ra ngoại quốc, đáng lý họ phải biết lợi dụng cái không khí tự do và an toàn để mà hội họp, bàn thảo và khuếch trương đảng, tăng cường nội lực nhưng các đảng quốc gia này đột nhiên có sáng kiến lạ lùng: họ tự chặt tay chơn của mình. Việc này cũng không cần giấu giếm. Từ việc lạnh lùng làm ngơ, bỏ rơi các đảng viên còn kẹt lại trong nước hay ở các trại tỵ nạn đến việc phân hóa chống đối nội bộ cho đến tàn lụi. Đây là một sự cố hết sức bất ngờ. Mà nội lực xưa nay vẫn là nền tảng tổ chức của một đảng ái quốc. Bây giờ thì – ai cũng có một chút bảo bối để cho là mình chánh thống – nhưng không ai có nội lực cả. Chẳng lẽ một đảng phái chỉ cần có một ban hội tề là đủ?
Chỉ có chủ trương dùng nội lực là đúng mà thôi. Mà nội lực là sự chung góp tài lực, trí lực, nhân lực của người Việt quốc gia tới giờ này không thực hiện được. Ngay chỗ này cũng cần minh bạch. Không phải ai cũng vô trách nhiệm hết. Chủ tiệm phở muốn đóng góp, chủ tiệm may muốn đóng góp, nghĩa là quần chúng rất nhiệt thành. Nhưng ai là người hiệu triệu? Ai dẫn đường?
Đâu phải khó khăn gì, chỉ cần nhìn vào những biểu hiện lúc sinh hoạt là có thể biết ngay! Các người tự cho mình là lãnh tụ quốc gia, các 'Sĩ phu hữu trách', các 'Đại thần' khi xưa chỉ cần giao thiệp với nhau hòa nhã, thân thiện, làm quyết định thật dân chủ, hợp tác với nhau thật chân thành để cho người dân – trong nước cũng như hải ngoại – nhìn vào một hình ảnh đẹp để mà so sánh. Cái mà họ cần làm – không phải là lên trời hái sao – mà làm sao tạo cho người dân lầm than trong nước cái cảm giác 'cũng là người Việt như nhau, nếu bọn CS bằng phân nửa người Việt hải ngoại thì đỡ khổ biết mấy!' Làm sao cho trong tối tăm những người cùng đường còn nuôi được một hy vọng.
Chán chường và khinh bỉ là những cảm xúc của con người tuyệt vọng. Cầu xin đừng tạo cho người dân Việt phải chịu những cảm giác này một lượt đến hai lần: 'nếu đuổi được đám CS này đi mà để đám hải ngoại kia về thì cũng như không!'
Ở Âu châu, ở Á châu, ở Mỹ châu, ở Phi châu, chỗ nào chữ 'Tự do' cũng viết bằng máu. Tự do không ai cho không, cũng không có ai đi tranh đấu giúp, phải tự mình đổ máu mới giành được. Trong lúc nội lực không có, lại cũng không chăm lo gầy dựng nội lực, mà hễ mở miệng ra là hô hào lật đổ chế độ CS ở Việt Nam thì quả thật là thê thảm, nó vừa khôi hài vừa tàn nhẫn.
Còn một khía cạnh thứ hai của công cuộc chống cộng là chủ trương lên án CS. Sự tự mình biết giới hạn là một hành động rất thiết thực và khôn khéo. Theo đường lối hành động này, từ ba mươi sáu năm nay người Việt đã tỏ ra vô cùng xuất sắc. Ở trong nước, các tôn giáo bằng hình thức này hay hình thức khác liên tục tố cáo các sai trái của chánh quyền CS. Ở ngoại quốc, các lãnh tụ CS khi đi công du đến đâu cũng gặp người Việt tập hợp phản đối. Những ngày lễ quan trọng như Tết Nguyên Đán, những kỷ niệm hãi hùng như ngày 30 tháng Tư đều được cộng đồng  nguời Việt Tự Do nhiệt tình tổ chức.
Thật là cảm động khi thấy các thanh niên mặc quân phục VNCH đứng trong nắng chang chang của Thành phố Richmond ca hát giúp đồng bào hưởng Tết tha hương. Thật là cảm động khi thấy các thiếu nữ trong áo dài tha thướt mời đồng bào mua dĩa nhạc của Phạm Quang Ngọc. Vô cùng hùng tráng là đoàn người từ các Tiểu bang tập hợp tại Canberra tưởng nhớ ngày Quốc nhục.
Uy vũ khuất phục không được, tiền bạc mua chuộc không được, ngạo nghễ với thời gian vẫn là các văn nhân, nghệ sĩ Việt nam khắp năm châu.
Nhưng những hành động bất bạo động này không thể lật đổ bạo quyền. Nó chỉ có giá trị tinh thần là nhắc nhở cho mọi người - nhứt là người CS - rằng chế độ CS là sai lầm, hại dân hại nước. Chế độ đó cần phải thay đổi.
Áp bức, bóc lột, bất công luôn luôn là lý do khiến người ta giương cờ Đại Nghĩa. Việt Nam ngày nay cũng lại cai trị bằng  'Ba Bê' mà tự xưng là làm cách mạng là sao? Quốc gia chia rẽ. Giai cấp lãnh đạo áp bức giai cấp bị trị. Việc người bóc lột người không còn bị coi là vô luân đáng hỗ thẹn mà nó lại được nhìn nhận là 'tự nhiên trong giai đoạn quá độ'. Nhân tâm ly tán. Người có chánh quyền trong tay có thể lợi dụng được ưu thế đó để kiếm 'đồng tiền dễ dàng'  mà sống phè phởn và người dân là công dân hạng hai phải giả đui, giả điếc để sống qua ngày. Đó là cách tốt nhứt để thi hành một câu ân cần mà cán bộ CS thường khuyên nhủ 'đừng có chỉ trích Đảng, ngoài ra thì muốn làm cái gì cũng được'.
Ai cũng muốn thay đổi tình trạng tự do phân nửa đó. Bất mãn thì có nhiều, nhưng những bất mãn này còn trong trình trạng rời rạc, chỉ là những hạt cát. Còn thiếu chất xi măng.
Tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu?
Có hai trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp thứ nhứt là khi sự lạm dụng chánh quyển đến mức quá độ và đường lối phát triển sai lầm đưa đến nền kinh tế suy sụp khiến người dân chịu không nổi hai gọng kềm này nữa thì bắt buộc phải xảy ra 'cùng tất biến'.
Cụ thể mà nói, khi nào có đất để bán hay cho mướn, hay khi nào còn mượn tiền của ngoại quốc được hay khi nào còn ký được những hợp đồng béo bở, thì đời sống vẫn còn thoải mái. Nhưng mãnh đất chỉ bán được một lần thì thôi. Đất cho ngoại quốc mướn làm đồn điền hay hãng xưởng thì cũng phải giao kèo gần một trăm năm. Còn tiền nợ ngoại quốc đến lúc trả tiền lời không nỗi nữa thì người ta đâu có cho mượn tiếp. Còn hợp đồng thì đâu có hoài để ký . . .
Trong bối cảnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ đến VN giống như một người bịnh ngặt nghèo đang nằm trên xe cứu thương mà lại bị thêm tai nạn lưu thông nữa . . .
Thiên hạ không còn có tiền nhiều để mua hàng nhập cảng nói chung thì hàng hóa xuất khẩu của VN cũng sẽ giảm. Hàng gia công như giày dép, áo quần cũng sẽ giảm, ngay cả chuyện đau lòng và nhục nhã nhất như nhân công xuất khẩu cũng sẽ giảm. Các kế hoạch xây cất khách sạn mới sẽ ngưng. Khách du lịch ngoại quốc sẽ giảm. Ngay cả tiền ăn nhậu của các cán bộ tham nhũng, của dân làm áp phe đã giúp các quán, các bar sống nhộn nhịp trước đây cũng sẽ giảm. . .
Những nhân công trước đây dù đồng lương ít ỏi nhưng vẫn có thể tự nuôi mình và có chút tiền nuôi gia đình. Bây giờ nếu họ bị thất nghiệp thì họ không còn đất đai ở nhà quê để mà trở về trồng trọt. Chén cơm bắt đầu phải chia hai rồi chia bốn. Chẳng bao lâu nữa, 80 triệu người Việt Nam sẽ bị kẹt cứng. Lúc đó chất xi măng sẽ xuất hiện.
Cái ngày bi đát đó sớm muộn gì rồi cũng phải đến vì bốn nguyên do khách quan. Dân số gia tăng. Tài nguyên giảm. Cạnh tranh quốc tế sẽ khốc liệt hơn và cuối cùng là cái bất tài lãnh đạo. Cái ngày bi đát đó cũng tự nó có mâu thuẩn. Cái ngày đó không thể một sớm một chiều mà đến liền được. Nếu vô casino đánh bài thì một đêm có thể thua một tỷ đô, nhưng nếu muốn phá nát cả nước VN thì phải cần nhiều năm lắm.
Trong lãnh vực kinh tế, hễ tỷ lệ phát triển ba năm liền mà âm thì là khủng hoảng kinh tế. Nhưng có khi không cần có khủng hoảng kinh tế mới có đại loạn. Nếu trong nước mà đời sống quá chênh lệch, một số ít quá giàu và phung phí tiền bạc ngang tàng và số đông quá nghèo, cơm không đủ ăn, nếu số người ở tù quá đông chỉ vì có ý kiến khác với chánh quyền, thì đó là những dấu hiệu chắc chắn của bất ổn xã hội sắp xảy ra.
Trong một nước, luôn luôn có một lực lượng xây dựng và một lực lượng phá hoại. Hễ xây dựng nhiều mà phá hoại ít thì có tiến bộ. Ngược lại xây dựng ít mà phá hoại nhiều thì nước sẽ đi thụt lùi. Hể cứ thụt lùi hoài thì sẽ đến ngày tàn lụi. Ai ai cũng mong mỏi ngày tàn lụi của CS đến càng sớm càng hay nhưng có nhiều lý do khiến ngày đó vẫn còn xa xôi. Nhưng ngày đó sẽ đến khi nước VN kiệt quệ. Ngày mong mỏi đó cũng là ngày đáng sợ nhứt. Cứ để theo tự nhiên, ngày đó sẽ đến như một chiếc xe tuột dốc mà không có thắng.
Thế giới ngày nay có quá nhiều thiên tai. Ngay cả những nuớc giàu có cũng khó khăn lắm mới cứu trợ thiên tai trong nước của mình. Cho nên việc cứu trợ quốc tế sẽ dần dần chỉ có tính cách tượng trưng.
Nếu lúc đó lại có thêm thiên tai thì nước VN sẽ vô cùng tàn nhẫn. Chính quyền sẽ không có khả năng cứu trợ sẽ xẩy ra tình trạng ai chết mặc ai.
Trường hợp thứ hai là có người CS thức thời muốn tránh cái nguy cơ trên thì phải hành động trước. Trói buộc người dân vào chủ nghĩa CS là người CS thì cởi trói cho người dân khỏi chủ nghĩa CS cũng phải là người CS. Đảng CSVN phải theo cái gương của Liên Sô.
Đứng chung với người CS phản động, tôi tin rằng vẫn có những đảng viên thành tâm và sáng suốt. Và những người này cũng biết đau lòng vì tình trạng đất nước. Chắc chắn rồi đây, trong số những người này, sẽ có người đủ hùng tâm, dũng khí để làm những chuyện phải làm. Đây là một chọn lựa rất khó khăn vì muốn đi con đường gian nan này thì phải bắt đầu bằng sự tự nguyện hy sinh những lợi lộc nhứt thời. Nhưng đây cũng là con đường vinh quang. Kết hợp trăm họ về một mối, đoàn tụ anh em, tạo dựng hạnh phúc cho mọi người xưa nay vẫn là hành động của những Đại Nhân.
Đế quốc Liên Xô tháo gỡ được thành công là nhờ Thế Giới Tự Do khuyến khích về tinh thần và giúp đỡ về vật chất.
Nguời Việt Tự Do thật sự yêu nước cũng phải giúp đỡ CSVN trong tiến trình này.
Thời gian nghiêng về đâu?
Đối với người Việt Tự do ở hải ngoại, nếu họ ở khoảng tuổi 60-80, bao nhiêu phấn đấu, cực khổ để định cư đã qua. Bây giờ  cuộc đời của họ đã ổn định rồi. Chén cơm, manh áo không còn phải lo nữa. An hưởng tuổi già chung quanh con cháu là hữu phước rồi, còn mong muốn gì hơn?
Nếu họ ở tuổi 30-50 thì hầu như đa số đã trải qua ít nhứt một lớp huấn luyện sinh ngữ để hòa nhập vào xã hội mới, một số đã được huấn luyện nghề nghiệp chuyên môn để tự lập, một số đã tốt nghiệp Đại học. Một số đã là tỷ phú rồi. Một số không ít đã nổi danh. Tất cả đều có công ăn việc làm. Tương lai rực rỡ mở rộng cho họ. Không ai có ảo vọng về VN tranh giành chức tước.
Đối với người Việt Tự do dầu ở lứa tuổi nào, nước VN có bị CS giày vò như thế nào và cho đến chừng nào, không có làm thiệt hại gì đến đời sống của họ hết. VN đã trở thành một dĩ vãng, một dĩ vãng có cả đau buồn và luyến tiếc. Nhưng chắc không còn ai dám đổ máu vì cái dĩ vãng xa xôi đó nữa. Thời gian giúp con người chấp nhận thực tế. Mặc dầu tình nước vẫn vấn vương, nhưng vấn đề VN không phải là vấn đề sinh tử đối với người Việt hải ngoại.
Trong bối cảnh đời sống thành đạt và phồn vinh của người Việt hải ngoại, thử lấy vấn đề nhân dụng ra bàn. Chắc chắn lương của một giám đốc ngân hàng ở các nước tiền tiến là phải hơn nhiều lương của một giám đốc ngân hàng ở VN. Tự nguyện bỏ  đồng lương lớn để lấy đồng lương nhỏ chỉ có thể xảy ra nếu có một động cơ ái quốc mãnh liệt. Nhưng lòng ái quốc này không còn bồng bột như xưa, lúc thanh niên lên đường ca hát vang trời 'Mùa thu rồi, ngày hai mươi ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. . . Rền khắp trời, lời hoan hô . . .'
 Vì cái kinh nghiệm của lịch sử, vì kiến thức có mở rộng hơn, vì cái dấn thân vào chỗ mơ hồ là quá phiêu lưu, nên cái đắn đo là tất nhiên.
Vì vậy khoan vội coi vấn đề trọng dụng nhân tài là đơn giản. Người có tự trọng không thể nào đi phục vụ cho một chế độ độc tài. Người có tài ba không thể đành lòng phí phạm thời giờ của mình với một chánh sách sai. Cho nên không hẳn phải dẹp bỏ liền đảng CS, nhưng vấn đề chia quyền phải được thẳng thắn đặt ra.
Nghe nói đến chia quyền là người ta thường, bĩu môi, khinh bỉ, vì nghĩ đến việc chia chác quyền lợi. Nhưng chia quyền trong chánh trị là một kỹ thuật tổ chức của những người thành tâm và viễn kiến tự bày ra để bảo đảm dân chủ, chẳng hạn chia quyền ra bốn cơ quan độc lập: hành pháp, lập pháp, tư pháp, ngôn luận để các cơ quan này kềm chế lẫn nhau, thì mới tránh được sự lạm dụng quyền hành. Chia quyền là tinh túy của tư tưởng chánh trị cổ kim.
Vì vậy, xin khoan vội hiểu 'chia quyền' là mời vài người Việt ở hải ngoại tham chánh là đủ. Chia quyền đây phải là bước đầu tiên để trả quyền chánh trị lại cho nhân dân, mà đại bộ phận của nhân dân là người trong nước. Và chia quyền lại không có nghĩa mời vài người ngoài đảng vào nội các trong nhiệm vụ thừa hành lệnh của đảng CS. Chia quyền phải thật sự là chấp nhận người ngoài đảng CS có quyền thảo luận và quyết định chánh sách của cả nước.
Thời phong kiến, các Vua anh minh không tự mình độc đoán trị dân mà lại tìm kiếm nhân tài. Người được giao trọng nhiệm được tự do sáng kiến, tận hết khả năng để làm việc. Và có khi để thật hữu hiệu, và để tỏ rõ quyết tâm, Vua còn ban cho quyền 'tiền trảm hậu tấu'. Ngày nay, nếu đảng CS vẫn cứ bo bo giữ độc quyền cai trị và kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt của người dân thì làm gì có nhân tài hưởng ứng?
Chỉ khi nào VN có thay đổi và nếu đất nước thật sự cần đến, thì nguời Việt hải ngoại chắc chắn không từ chối hợp tác. Không chỉ hợp tác về nhân sự mà là một sự hợp tác toàn diện, nó bao gồm cả kinh tế, tài chánh, thương mại, văn hoá. . . Hợp tác là đã hy sinh rồi. Ngoại trừ một số người cơ hội muốn thừa nước đục thả câu, còn phải chờ đến chừng nào thì chờ, chớ người có khả năng đâu có nôn nóng. Thời gian không có thúc người Việt hải ngoại được.
Năm xưa trong lúc tranh quyền, người CS có giết các nhà ái quốc đó là tội phản nghịch. Sau năm 1975, trong suốt hơn ba mươi sáu năm, chủ nghĩa CS không đem đến hạnh phúc cho nhân dân. Còn tiếp tục tôn thờ một chủ nghĩa đã sai là tội bất tài tập thể. Sau đó, biết rất rõ có cách để khai thông bế tắc mà không chân thành với chính mình, không đủ can đãm yêu nước, đây là tội tư kỷ. Cả hai tội này gom lại là một tội mới, tội cột chân nhân dân không cho tiến lên. Đừng tưởng thời gian sẽ xóa tội này được. Thời gian càng kéo dài, đất nước càng trì trệ, nhân dân càng đau khổ, thì cái tội này càng lớn.
Không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết chắc chắn là sau này Việt Nam sẽ là một nước thịnh vượng. Tài nguyên dồi dào. Người dân làm việc cần cù, trí óc thông minh và sống có đạo lý. Đó là các điều kiện cần thiết – nhưng chưa phải là đủ. Còn phải có nhân hòa nữa. Cho nên cái thịnh vượng này không chỉ đo bằng số lượng xe hơi, TV, tủ lạnh mà người dân mua được, mà nó còn phải biểu lộ ra bằng nếp sống hài hòa và cái tự do tự quyết của nguời dân.
Gia hòa vạn sự hưng. Cũng không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết rằng sự thịnh vượng này chỉ có thể đạt được nếu tất cả người dân có cơ hội đóng góp. Sự thịnh vượng này đến sớm hơn nếu có người Việt hải ngoại tiếp sức.
Tấm lòng yêu nước của mỗi người liên hệ có cao hay thấp không tùy thuộc vào sự kiên trì chỉ trích đối phương mà tùy thuộc hoàn toàn vào cái thành tâm và cái can đảm của mỗi người tự nhận lỗi của chính mình.
Tình tự dân tộc bấy lâu nay là nói nhảm, chừng đó mới thật sự bắt đầu.
 
hỒ tẤn vinh
Khởi viết ngày 13 tháng hai 2009
Bây giờ là tháng 10 năm 2011
mọi sự việc vẫn còn như vậy
            Melbourne

2011/10/05

Người Việt hải ngoại có thể Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ?

Người Việt hải ngoại có thể Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ?


2011-09-23 | | Quê Mẹ

PARIS, ngày 23.9.2011 (QUÊ MẸ) - Trong thời gian qua, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam nhận được rất nhiều thư của bạn đọc khắp năm châu gửi về hỏi Người Việt hải ngoại có khả năng Truy tố tội ác Cộng sản trước các Tòa án quốc tế không ? Nếu được thì phải làm sao, làm gì ?

Thật thế, từ 20 năm qua nhiều cá nhân hay đoàn thể công bố ý định thu tập hồ sơ và đưa Cộng sản Việt Nam ra kiện trước Tòa án quốc tế về những tội ác mà Đảng vi phạm đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, v.v… Tuy nhiên cho tới nay, chưa thấy các cá nhân hay đoàn thể ấy công bố việc kiện tụng ấy đi đến đâu, thành quả ra sao.

Do sự có mặt và hoạt động trên trường quốc tế 36 năm qua, chúng tôi xin được trả lời việc truy tố tội ác Cộng sản trước các tòa án quốc tế có thể thực hiện hay không.

Trước hết các tòa án quốc tế là tòa án nào ? Có hai tòa án quốc tế :

Một là, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ, the International Court of Justice), trụ sở đặt tại Hòa Lan ở thành phố The Hague, là một cơ quan thuộc LHQ ra đời năm 1945 chiếu theo Hiến chương LHQ. Tòa án này bắt đầu hoạt động từ tháng tư năm 1946. Vai trò của tòa là áp dụng các luật pháp quốc tế để dàn xếp pháp lý các tranh chấp do các quốc gia đệ trình, và cho những ý kiến tham vấn trên các vấn nạn pháp lý đến từ những cơ cấu có thực quyền của LHQ hoặc các sở cục chuyên biệt.

Như vậy các cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại không thể truy tố nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước Tòa án Công lý Quốc tế. Ngoại trừ các cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại vận động được một quốc gia nào đó trong thế giới chấp thuận thay cá nhân hay đoàn thể, tổ chức của người Việt hải ngoại đứng tên kiện nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Nói tóm, Tòa án Công lý Quốc tế chỉ thụ lý hồ sơ của một quốc gia kiện một quốc gia khác.

Hai là, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC, the International Criminal Court) ra đời theo Quy chế Rome ký ngày 17.7.1998, nhưng chỉ có hiệu lực kể từ ngày 1.7.2002. Tòa án Hình sự Quốc tế có quyềnlực pháp lý xét xử nạn diệt chủng, các tội ác chống nhân loại, và tội phạm chiến tranh xẩy ra sau ngày 1.7.2002, nghĩa là ngày Tòa án Công lý Quốc tế có hiệu lực. Như thế thì việc kiện các vụ xẩy ra trước ngày 1.7.2002, chẳng hạn như Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế là bất khả thi.

Trái lại với Tòa án Công lý Quốc tế, tại Tòa án Hình sự Quốc tế, các cá nhân, đoàn thể, tổ chức Phi chính phủ có quyền nộp đơn kiện, với điều kiện quốc gia đưa ra kiện đã tham gia ký kết Quy chế Rome. Việt Nam chưa tham gia ký kết quy chế này. Vậy thì trong trường hợp muốn kiện Việt Nam Cộng sản và để cho Tòa án Hình sự Quốc tế có thể thụ lý hồ sơ về những tội ác vi phạm tại Việt Nam sau ngày 1.7.2002, cần phải được Hội đồng Bảo an LHQ chuyển sự vụ đến Tòa án Hình sự Quốc tế (như việc đã xẩy ra cho Libya và Sudan-Dafur).

Xem thế những nỗ lực mà từ 20 năm qua một số cá nhân, đoàn thể người Việt công bố ý định truy tố tội ác Cộng sản nhưng chẳng đưa tới một kết quả nào, là vì những cá nhân hay đoàn thể này chỉ xuất phát từ ý chí chống Cộng, nhưng lại không am hiểu các cơ cấu pháp lý quốc tế đáp ứng hay không với ước muốn của mình.

Cho nên, hưởng ứng ý định truy tố tội ác Cộng sản là việc đáng làm, phải làm, cần làm khẩn cấp, nhưng chớ mất thì giờ, mất tiền bạc cho những cuộc quyên góp nói là "Kiện Cộng sản trước các tòa án quốc tế" nhưng thực tế chỉ nhằm lợi dụng lòng căm thù cộng sản của quần chúng để dấy động các viễn đồ phe phái, hơn là quan tâm thực hiện công lý quốc tế trong việc truy tố tội ác Cộng sản.

Trên mặt pháp lý, sáu chữ "Truy tố tội ác Cộng sản" rất mơ hồ. Tại các pháp đình quốc gia hay quốc tế, ai cũng có quyền truy tố một cá nhân cộng sản, tên Nguyễn Văn X chẳng hạn, với đầy đủ hồ sơ, chứng liệu, nhân chứng. Song chẳng có pháp đình nào xử "tội ác Cộng sản" khơi khơi, nửa vời như thế. Pháp đình cần biết tội ác gì, vào lúc nào và do AI phạm.

Năm 2009 trong một bức thư viết ngày 29.5.2009 đề cập tới nhiều vấn đề tranh đấu cho nhân quyền gửi ông chính trị gia Nguyễn Quốc Nam tại Paris, chúng tôi đưa ra một trong 4 góp ý về việc ông Nam tổ chức bữa cơm gây qũy tại chùa Khánh Anh và kêu gọi đóng góp cho Hồ sơ Kiện Hà Nội tại LHQ, mà ông Nam gọi là "HỒ SƠ vô cùng quan trọng (…) Làmđượcđiềuđó,chúng ta mới cóđượcTƯ THẾ CHỦĐỘNGđánh vào MỘT TRONG NHỮNGTỮ HUYỆTcủa tậpđoàn MafiaHà Nội" (chúng tôi dẫn nguyên câu ông Nam kêu gọi với các lỗi chính tả và cách ông viết hoa).

Lúc ấy chúng tôi đã khẳng định với ông Nguyễn Quốc Nam rằng :

"Tôi dám khẳng định 99% là hồ sơ các anh sắp nộp, sau khi nhận được mẩu biên lai, là chìm vào hố lãng quên. Vì các cơ cấu nhân quyền LHQ chẳng giúp gì cho các anh, thêm Trục Cực Quyền sẽ tẩy phá tất cả những chi các anh dự tính.

"Cho nên tôi rất e sợ câu viết của anh tuy rôm rả, hay ho : "HỒ SƠ vô cùng quan trọng (…) Làmđượcđiềuđó,chúng ta mới cóđượcTƯ THẾ CHỦĐỘNGđánh vào MỘT TRONG NHỮNGTỮ HUYỆTcủa tậpđoàn MafiaHà Nội". Nếu anh không thực hiện được 20% của ý muốn sẽ làm thất vọng quần chúng đấu tranh đang trông đợi ở sự khôn ngoan, giỏi giắn và chuyên nghiệp của anh và các bạn".

Quả như thế, hai năm qua, không thấy ông Nguyễn Quốc Nam cho đồng bào biết tiền bạc thu được dùng vào việc gì, cuộc kiện tụng ấy đi đến đâu, kết quả ra sao ?

Như thế thì pháp lý quốc tế chẳng đáp ứng gì cho việc truy tố tội ác cộng sản Việt Nam hay sao ?

Có nhưng khó khăn và phức tạp.

Pháp lý quốc tế là nguyên tắc được chấp nhận từ cuối Thế chiến thứ hai đối với một số tội ác như nạn diệt chủng, chiến tranh, tra tấn, mất tích… khiến nhân loại tổn thương. Các tội ác này có thể đưa ra xử tại bất cứ quốc gia nào. Tốt hơn hết là các tội ác này được xử tại các nước sở tại. Nhưng nếu không thể thực hiện các vụ xử, như tại Việt Nam cộng sản ngày nay, bất cứ ai cũng có thể nộp đơn kiện tại một nước thứ ba – thuật ngữ gọi là "Forum state".

Đã có 125 quốc gia tham gia ký kết Pháp lý quốc tế và đặt pháp lý này trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, từ đó trở thành Forum state để thụ lý các hồ sơ thưa kiện của nạn nhân hay các tổ chức Phi chính phủ. Hiện nay, Châu Âu là các quốc gia dễ dàng chấp nhận việc thưa kiện này. Tuy nhiên việc thụ lý rất phức tạp, do mỗi quốc gia có một cách hành xử riêng, và thời gian thưa kiện khá dài. Những khó khăn, phức tạp gồm có :

1. Thời hiệubị giới hạn : những sự kiện tranh tụng không được xẩy ra quá lâu. Ở Pháp giới hạn là 10 năm, ở Đức 20 năm. Ít có quốc gia nào chấp nhận quá thời gian ấy. Do đó, tranh tụng vụ Cải cách Ruộng đất hay Mậu Thân Huế không thể thực hiện.

2. Sự có mặt của bị can : Bị can phải có mặt tại tòa án của quốc gia thứ ba (Forum State) vào lúc thụ lý đơn kiện (như ở Pháp), vào lúc thụ lý đơn kiện và trong thời gian điều tra (như ở Canada, Hòa Lan), hoặc lúc tòa xét xử (như ở Đức, Tây Ban Nha, Tiệp, Ỳ Đại Lợi, Na Uy).

3. Hồ sơ vững chắc : Để một nước thứ ba (Forum state) thụ lý đơn kiện, hồ sơ phải vững chắc, với sự có mặt của nhân chứng (First hand witnesses) hay các gia đình người bị giết, những chứng cớ phạm tội của bị can. Không thể sử dụng các phúc trình hay những nhân chứng ngoại cuộc thứ ba.

4. Quyền miễn trừ ngoại giao : Các vị Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng được miễn trừ ngoại giao, không ai được truy tố, ngoại trừ tại Tòa án Hình sự Quốc tế. Nhưng lắm khi các quốc gia thứ ba cho quyền miễn trừ các cựu bộ trưởng. Chẳng hạn năm 2004, Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền truy tố ông Donald Rumsfeld, cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, về những tội ác tại Iraq, nhưng Pháp đã cho quyền miễn trừ và bác bỏ đơn kiện.

5. Áp lực chính trị : Trong nhiều trường hợp quốc gia thứ ba (Forum state) không muốn áp dụng pháp lý quốc tế vì nguy hại đến liên hệ ngoại giao. Ví dụ năm 2003 đơn kiện truy tố ông Tommy Franks, Chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ tại Iraq, ở Vương quốc Bỉ. Nhưng Bỉ đã bác bỏ ngay, vì Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Donald Rumfelds, hăm dọa nếu Bỉ thụ lý hồ sơ, Hoa Kỳ sẽ dời trụ sở OTAN ở Bỉ sang một quốc gia khác.

Riêng tại Hoa Kỳ, có hai sắc luật mà người Việt tị nạn có thể dùng để truy tố, đó là :

1. Alien Tort Claim Act (ATCA) ra đời từ năm 1798. Đây là trình tự tố tụng trong vụ kiện dân sự, chứ không phải hình sự. Những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ có thể đâm đơn kiện những công dân nước khác (Việt Cộng chẳng hạn), mà không bị thời hiệu giới hạn. Tuy nhiên bị can phải vào Hoa Kỳ lúc đơn kiện được thụ lý. Hơn 200 năm qua chỉ có vài trường hợp thành công mà thôi.

2. Torture Victim Prevention Act được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua năm 1991. Tuy nhiên các sự kiện truy tố không được xẩy ra quá 10 năm.

Kết luận :

Điều quan tâm và phải truy tố tức khắc là những vi phạm ĐANG xẩy ra trong nước (các vi phạm nhân quyền đối với mọi giới kể cả thiếu nhi và phụ nữ, các vụ đàn áp tôn giáo, đàn áp người sắc tộc, đàn áp người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, v.v…).

Vì sao cứ lôi kéo những "tội ác Cộng sản" xẩy ra bốn chục, năm chục năm trước, đã quá thời hiệu, trong khi im lặng hay làm ngơ trước các tội ác, cũng của chế độ Cộng sản, ĐANG xẩy ra hằng ngày trên đất nước Việt Nam ?!

Không thể kêu gào "Truy tố tội ác Cộng sản" đồng thời với những lời công kích trên Paltalk, hay bài viết tung lên Mạng Internet hằng ngày đánh phá các đoàn thể, tôn giáo thuộc phe dân tộc, mà hậu quả thấy rõ chỉ làm phân hóa và ly gián Cộng đồng Người Việt Hải ngoại. Dù lời công kích, bài viết hóa trang dưới mỹ từ "Chống Cộng".

Thực tế, các lối công kích hay bài viết như thế cho đến nay vốn xuất phát từ cơ quan phản gián của Bộ Công an Hà Nội, chẳng hạn như A16 thuộc Bộ Công an, tương đương với X15 Cục 2 Bộ Quốc phòng chuyên trách biên soạn tài liệu phản gián giả (thông tin giả, tư liệu giả, hình ảnh giả, nhằm ly gián Cộng đồng người Việt hải ngoại và bôi nhọ, vu hãm các nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ trong và ngoài nước, mà chúng ta thấy phát hành thường trực trên Mạng qua một số Cây bút "chống Cộng" hay Trang nhà "chống Cộng" hiện hữu tại Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi.

Không thể tiếp tục gọi kêu suông cho việc "Truy tố tội ác Cộng sản" hay gọi kêu "Đoàn kết", khi bản thân các tay viết hay trang nhà nói trên chưa hề có một Hành Động Chống Chia rẽ nào cả, chưa từng tham gia tố cáo Hà Nội trong các tội phạm hiện tại trên các Diễn đàn thế giới.

http://bit.ly/pAUUVY

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG: CSVN VÀ NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI

TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG: CSVN VÀ NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI
 

Hồ Tấn Vinh

THẾ YẾU CỦA CHÁNH QUYỀN CSVN
Con người sinh ra, lớn lên rồi chết đi là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Một chế độ dựng lên rồi sập xuống cũng là cái lẽ biến thiên của cuộc đời. Nó có thể lâu hay mau, bền vững hay chết non là do nhiều sự kiện cộng lại. Nhưng một chế độ không thể ở lỳ hoài được. Nhưng ngoài cái lý do sinh diệt bình thường, chế độ CSVN còn có những lý do riêng biệt để mà tự hủy lẹ hơn.

Sau hơn 36 năm cầm quyền đảng CSVN đã có quá dư thời gian để chứng tỏ rằng mình không có khả năng đem đến hạnh phúc cho nhân dân, đưa đến nước mạnh dân giàu Ngoài chuyện tàn phá tài nguyên, phí phạm tiền viện trợ quốc tế, không bảo vệ nổi lãnh thổ của cha ông để lại, xã hội xô bồ, đạp lên nhau mà sống, người CS còn làm thêm một tội tầy trời, đó là làm nhục nước.

Trong bất kỳ chế độ nào, cũng có khi chính người nguyên thủ hay một vài 'đại gia' bất tín, bất nghĩa. Nhưng chưa từng có một chế độ nào mà 2 triệu đảng viên từ cấp thấp nhứt đến cấp cao nhứt đều ăn nói ngang ngược với dân một cách tỉnh queo. Sau hơn 36 năm hống hách với nhân dân cho sướng miệng, người CS đối với ngoại quốc lại vẫn chưa bỏ được tâm lý đi ăn mày và đổ thừa tất cả cho chiến tranh.

Những cái thích thú khuếch khoác khoe khoan, ăn ngược nói ngạo, bội tín, bội nghĩa, lưu manh gạt gẫm, bịa đặt vu oan, nói một đường làm một ngã  - lúc đầu tưởng đâu là vô tội vạ vì có ai dám cải với cây AK - không dè với thời gian nó trở thành chứng bịnh ung thư. Đối với người dân trong nước dưới tay mình hay đối với người ngoại quốc đến làm ăn với mình, người CSVN đã tạo ra một ấn tượng khó bôi: họ là những người bán khai, thô lổ, không thể tin được. Họ đã tự mình loại mình ra khỏi tập thể có phép tắc cư xử văn minh. Và nếu muốn nước Việt Nam tiến lên, CSVN không thể nào tiếp tục đại diện cho chữ thành tín để đi giao tiếp. Muốn người ta lại tin vào VN nữa thì phải nhờ đến người khác. Cùng một lúc tàn phá đất nước về mặt vật chất, người CSVN cũng tàn phá đất nước về mặt tinh thần và văn hóa. Các dấu hiệu của sự tan rả của chế độ đã quá rõ rệt.

Trong cái bối cảnh suy đối này, CSVN bây giờ đang lung túng cả về đối ngoại lẫn đối nội. Phải đương đầu với Trung quốc vì những tranh chấp đất đai và hãi đảo. Phải đương đầu với dân chúng vì những cuộc biểu tình.

Trong tương lai, kết quả của những đối phó này sẽ ra sao?

Đối với Trung quốc, CSVN bị lép vế vì hai lý do.
Thứ nhứt, Trung quốc quá mạnh về kinh tế và quân sự so với Việt Nam cho nên mặc dầu có những luật lệ quốc tế để phân xử các tranh chấp giữa các quốc gia, nhưng trên thực tế, ngay cả ngày nay, ai có khả năng chiếm đất trước và giữ được nó là của họ (Anh quốc thắng Argentina ở Falklands).

Điểm thứ hai
là cái nợ ân tình. Trung Quốc đã bỏ tiền của, súng đạn giúp CSVN chiếm lấy miền Nam thì bây giờ CSVN phải hồi báo lại thì mới đúng là tình hữu nghị.

36 năm là quá dài để cho Trung quốc dư thời gian đưa cán bộ tình báo qua Việt Nam để cấu kết với cán bộ VN thân Trung Quốc và lập kế loại trừ những cán bộ không thân thiện. Cho nên đảng CSVN bây giờ nằm gọn trong tay của Trung Quốc rồi. Quyền lực, tiền tài, cơ sở làm ăn mà bây giờ các người đang cai trị VN có, là nhờ có Trung Quốc xấp xếp. CSVN đâu có cách nào quỵt nợ ân tình được. CSVN đâu có thể nào làm nghịch ý Trung Quốc được. Chỉ khi nào Việt Nam có một chánh thể khác thì cái nợ ân tình này mới có thể đem ra bàn lại.

Còn các cuộc biểu tình ở các thành phố thì sẽ ra sao?

Lý do trước mắt là sự nhượng bộ về chủ quyền các hãi đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nếu ta đi hỏi người dân ở Cần Thơ hay ở Bắc Lạng các đảo đó ở đâu thì hầu như không ai biết nó ở đâu cả. Những người biết các đảo đó ở đâu là đa số là các giáo sư Sử Địa, các sinh viên và một số trí thức khác. Tổng cộng lại, họ không phải là đa số quần chúng và họ cũng không thể tự động đi biểu tình. Đứng đàng sau lưng, phải có người đạo diễn. Những ngưòi này có thể vì lòng yêu nước chân thành hay cũng có thể có những lý do khác mà lòng yêu nước chỉ là tấm bình phong.

Liên can trong vụ này, CSVN là đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm với lịch sử VN về tội không bảo vệ được lãnh thổ. Trong tương lai xa hơn, VN có thể mất phần tài nguyên mà các vùng đó có thể đem tới. Nhưng trực tiếp bị thiệt thòi trước mắt chỉ là những ngư phủ đánh cá bằng tàu lớn. Xưa kia họ tự do ở vùng biển của mình, bây giờ ra đó đánh cá là bị bắt. Tỷ lệ của số ngư phủ này so với dân số cả nước là một tỷ lệ nhỏ nhoi.

Cho nên mặc dầu cái chánh nghĩa là có, nhưng cái thế nhân dân thì không. Các cuộc biểu tình này sẽ không kéo dài được lâu. Nhưng nó không phải là vô ích. Nó giúp cho quần chúng ý thức được ai là tội phạm phản quốc. Nó là những cuộc tập trận cần thiết. Nó giúp cho quần chúng có kinh nghiệm tổ chức, lòng tự tin và tính dứt khoát lúc thời cơ đã chính mùi. Chừng nào?

Khi nhà trường không có đủ chỗ cho con nít đi học, khi nhà thương bó tay, để người bệnh la liệt không còn thuốc thang để trị bịnh, khi người ăn xin và người thất nghiệp tràn lan ngoài phố, khi người dân đóng không nổi sưu cao thuế nặng nữa, khi bà con thân thuộc ở tù nhiều quá . . . thì người dân sẽ đi biểu tình. Nghẹt thở quá, không biểu tình thì chết, nổi dậy thì may ra có hy vọng. Nhưng lần này không cần trí thức giựt dây, lần này đọng chạm tới chén cơm và cuộc sống hằng ngày của người dân, lần này mới là sức mạnh của nhân dân. Lần này là lần thiệt.

Quân đội nhân dân, công an nhân dân, cảnh sát nhân dân sẽ được huy động để chống nhân dân. Nhưng không phải toàn bộ quân đội, công an, cảnh sát tham gia trực tiếp đàn áp. Chỉ một bộ phận tham gia và trong cơn say máu, họ sẽ thẳng tay.

Cuộc dằn co này có thể kéo dài lê thê hay ngắn gọn trong vài ngày. Nhưng phải có người đổ máu. Không nhiều thì cũng phải có ít, vì CS không dễ chịu thua liền, và máu là cái giá phải trả cho tự do.

Những bộ phận quân đội, công an. cảnh sát còn lại đứng ngoài nhìn, họ sẽ thấy bà con, anh em, cha mẹ trong đám biểu tình bị đánh, bị đập. Họ sẽ bắt đầu suy nghĩ. Khi họ suy nghĩ  xong thì chế độ tiêu liền.

Đó là những cái gì đã thật sự xảy ra ở Tunisie, Egypte, Yemen .v.v. Có ông Tổng thống bỏ của, chạy lấy mạng, có ông Tổng thống bị bắt ở lại chờ ngày ra tòa. Đừng nói chi đến những Tổng Bộ Trưởng khác.

Trước đây, CS đoạt được chánh quyền là 50% nhờ súng đạn của Liên Xô và Trung Cộng còn 50% là nhờ một kỹ thuật vận động quần chúng xuất sắc đã gạt được người dân. Ngày nay chính người dân mở mắt ra biết mình đã bị lợi dụng nên không thể nào gạt họ lần thứ hai. Người CS không còn xử dụng thế nhân dân được nữa. Thế nhân dân bây giờ đang chống lại họ.

Người CSVN đang ở trong thế kẹt.
 
THẾ MẠNH CỦA NGƯỜI VIỆT HÃI NGOẠI
Người Việt hãi ngoại đã thành công lớn trong mọi lãnh vực. Từ công ăn việc làm của từng cá nhân đến việc học hành đổ đạt của con cái, từ đời sống vật chất sung túc đến cái khung cảnh an lạc thoải mái, không bị khuấy nhiểu của một chế độ tự do dân chủ, từ cái luật pháp công minh, đến cái châm sóc ân cần của hệ thống an sinh xã hội nhân bản, dầu cho họ có biết hay không, họ cũng đã thực sự ở 'thiên đường' trần gian rồi.

Với số lượng mấy triệu dân ở khắp năm châu, người Việt hãi ngoại là một tiềm năng vĩ đại có đủ khả năng đưa nước Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay. Do đó người Việt hãi ngoại đang ở thế thượng phong. Với điều kiện:

Người Việt hãi ngoại là một tập hợp nhiểu thành phần khác nhau, trong đó có những chủ tiệm phở, tiệm may. Trong đó cũng có nhũng kỷ sư, bác sĩ, mà trong đó cũng có người đi làm thuê, làm mướn. Trong đó cũng có những người thất nghiệp sống nhờ trợ cấp xã hội, mà trong đó cũng có những nhà tỷ phú dollars.

Người Việt hãi ngoại chỉ thành lực lượng khi họ hành động như một khối.

Câu này là chìa khóa của vần đề, Làm sao để cộng đồng người Việt Hãi ngoại hành động  thành một khối? Thành lập một Hội Đồng? Ứng cữ? Đề cữ? Bầu phiếu? Cái đó tôi không biết. Nhưng chắc chắn có nhiều người nghĩ ra nhiều cách rồi. Cái mà tôi biết là sự việc một Hội Đồng Chỉ Đạo Người Việt Hãi Ngoại QUÁ KHÓ THÀNH LẬP không phải chỉ vì người Việt không thể hợp tác với nhau được và CSVN tìm cách phá thối. Ngoài hai lý do trên ra, còn có một lý do quan trọng không kém đó là có những thế lực ngoại quốc cũng không muốn người Việt Hãi Ngoại mạnh lên và có những người da vàng nói tiếng Việt nhưng làm việc cho các thế lực đó. Tất cả những yếu tố bên trong và bên ngoài đó đã đưa cộng đồng Người Việt Hãi Ngoại đến tình trạng rắn không đầu ngày nay. Dầu có bị thọc gậy bánh xe bao nhiêu, việc không tập hợp được vẫn là trách nhiệm chánh của những người trí thức thật tâm yêu nước. Không có cái Hội Đồng này thì không có tiếng nói chung, nghĩa là không có lực lượng, nghĩa là không thể làm gì để giúp nước được.

36 nhà trí thức nhắc nhở VC dùng đến 'sức mạnh dân tộc'

Sức mạnh dân tộc là gì? Sức mạnh nhân dân là gì? Sức mạnh của quần chúng là gì? Sức mạnh của đồng bào là gì? Đương nhiên, khi lấy kiến hiển vi ra soi thì mỗi cụm từ có chút sai biệt, nhưng trong đại thể thì nó cũng chỉ nói đến sức mạnh của một số đông người. Chúng ta bàn luận nghiêm túc nên không để mấy chữ này làm bị rối trí nhe.

Trước đây có Giáo Sư Phó Bá Long, sau đó là đến Tướng Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ lại đến 36 người tự nhận là trí thức tìm cách tiếp xúc với VC. Những người này đều đã bị lực lượng hãi ngoại chối bỏ thậm tệ. Giáo Sư Phó Bá Long và Tướng Nguyễn Cao Kỳ được hân hạnh bắt tay với vài người lãnh đạo CS rồi thôi. Nếu CS chơi thâm, chánh thức mời rềnh rang 36 nhà trí thức về VN uống trà và ngợi khen họ, thì họ sẽ hãnh diện lắm hay mới biết mình bị lợi dụng và bị chọc quê?

Thật ra, một vài tướng lãnh cũ của VNCH hay 36 nhà khoa bảng VN đối với CS không là cái gì cả. Những người trí thức này tự đánh giá mình quá cao. Họ tưởng CS sẽ xem trọng chữ nghĩa. Dầu cho có 360 người khoa bảng đi nữa, đối với CS, trí thức phải đầu hàng giai cấp, nói một cách khác, trí thức phải nghe lời đảng. Trí thức không có gì để bàn với đảng. Trí thức trong nước vì ở trong thế kẹt nên phải chịu thua để mà sống thì ai cũng hiểu được mà thương tâm. Nhưng trí thức đã ra hãi ngoại rồi mà chịu đầu hàng giai cấp thì làm sao hiểu đây?

Nhưng nếu những người trên đây được người Việt Hãi ngoại nhiệt liệt ủng hộ thì sao?

Chừng đó CS sẽ thay đổi thái độ. CS sẽ mừng lắm, vì họ đã bỏ tiền ra rất nhiều để làm cái công tác hãi-ngoại-vận này lâu rồi. Bây giờ đã có kết quả thì còn muốn gì hơn? Nhưng ở trong thí dụ đó, các nhà trí thức đừng tưởng bở, nếu CS chịu săn đón các ông chẳng qua là tại cái lực lượng phía sau lưng chớ không phải cái bằng cấp trước mặt. Nói một cách khác, bất cứ một chủ tiệm phở, thợ hớt tóc, ca sĩ trẻ, ký giã già nếu họ được người Việt hãi ngoại ủng hộ thì họ cũng sẽ được săn đón tương tự.

Cái tiếu lâm trong vụ này là các 'thiên kinh vạn quyển' không hiểu cái gì họ nói. Họ không biết tự mình tìm hậu thuẩn của người Việt Hãi Ngoại - đó cũng là một sức mạnh dân tộc - lại đi dạy VC là chuyên viên thượng thặng dùng sức mạnh dân tộc để cướp chánh quyền. Nhưng thời thế đã đổi thay, bây giờ sức mạnh dân tộc đã quây 180 độ rồi!
 
KHI HAI BÊN NÓI CHUYỆN VỚI NHAU
Cứ để tự nhiên, chế độ CS ở VN sẽ bị quần chúng đứng lên dẹp bỏ. Đó là điều chắc chắn. Nhưng trong quá trình dẹp bỏ đó, sẽ có rất nhiều tổn thất về vật chất và xương máu.

Để tránh tình trạng tồi tệ này
, bài toán Việt Nam chỉ có thể giải quyết tốt đẹp nhứt bằng cách hai bên nói chuyện với nhau.

Nhưng mỗi bên có những ý định khác nhau. VC muốn người Việt Hãi Ngoại xóa bỏ hận thù. Còn người Việt Hãi Ngoại thì muốn xóa bỏ chế độ CS.

Mục tiêu của hòa đàm là giải quyết cái chánh trị bế tắc hiện nay. Do đó, nó không phải là tìm cách cải tiến để củng cố chế độ CS hiện nay (chế độ này hết thuốc chữa rồi) mà nó cũng không phải là dẹp bỏ đảng CS vì đó là trái với tinh thần tự do dân chủ. Mục tiêu thực tế là thỏa thuận những bước cần thiết để chuyển giao độc quyền cai trị của đảng CS lại cho nhân dân. Cái ưu việt của chế độ dân chủ không phải ở chỗ nó tự nhiên chọn được những người cai trị hoàn hảo, mà nó nằm ở chỗ người dân nếu rủi ro chọn lầm người thì chỉ phải ráng chịu đựng có một nhiệm kỳ (3 hay 5 năm) chớ không phải 36 năm hay hơn nữa như bây giờ.
 
PHÁI ĐOÀN CS
CSVN ở trong một thế phải chọn lựa khó khăn.

Người CS yêu nước muốn tìm cách giải quyết quốc nạn bằng cách thảo luận với mọi thành phần chống đối trước hết phải thắng được sự ù lỳ của các đồng chí bảo thủ. Những người này đang hưởng lợi lộc mà quyền hành đã ban cho, họ sung sướng quá rồi nên không muốn có thay đổi.

Và sau đó là phải qua mặt Trung Cộng. Đa số thành phần đang cai trị VN đã bị Trung Cộng khống chế rồi. Mà Trung Cộng đâu bao giờ muốn một nước VN hùng mạnh. Cho nên dầu cho biết rằng vì quyền lợi của Tổ Quốc, CSVN phải nhờ người Việt Hãi Ngoại tiếp tay để tăng nội lực, họ cũng không dám làm vì đừng nói đến quyền hành và tài sản họ đang có, ngay cả tính mạng của họ cũng không được an toàn.

Cho nên vì quyền lợi của quốc gia, ai cũng thấy phải có thương thuyết càng sớm càng tốt. Nhưng xác suất của triển vọng này rất ít.

Phải biết chờ đợi. CSVN sẽ bị bắt buộc phải thương thuyết chỉ khi nào họ không còn cách nào cựa quậy nữa. Cho nên phải chờ đến khi nào CSVN thật sự bí lối. Họ phải bị nằm trong một thế 'hoặc thay đổi hoặc chết'. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Quan tài thì sẽ thấy. Hoặc thấy trước thì còn vớt vát chút đỉnh. Thấy quá trễ thì sẽ sạch túi. Chuyện này chỉ có thể xấp xếp giữa người CS với nhau mà thôi.
 
PHÁI ĐOÀN HÃI NGOẠI
Người Việt hãi ngoại đi thương thuyết với CS ở trong thế mạnh chỉ khi nào họ có đa số người Việt hãi ngoại ủng hộ. Và nếu họ thật sự yêu nước và muốn làm việc có kết quả thì họ phải nhận nhiệm vụ từ tập đoàn người Việt hãi ngoại. Người CS chỉ nhượng bộ trước áp lực của nhân dân. Chỉ có người đại diện thật sự của tập đoàn người Việt Hãi Ngoại mới có thể đặt kiều kiện với CS. 'Chịu điều kiện thì giúp, không chịu thì thôi. Tôi đi về!'

Trong lúc CSVN chưa có dấu hiệu gì thay đổi chánh sách thì vì quyền lợi Tối Thượng của Tổ Quốc, người Việt Hãi Ngoại phải tự mình chuẩn bị sẳn sàng đi, những người Việt Hãi Ngoại nhứt là những người có danh vọng phải hiểu rằng xé lẻ vọng động là làm trở ngại sự tiến triển của ván cờ-/-
 

Hồ Tấn Vinh
4/10/2011