*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/07/13

Ý NGHĨA AN CƯ - KIẾT HẠ

******************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : ubcv.ibib@free.fr

Web : http://www.queme.net
*******************************************************************************
 
 
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 11.7.2011
Khuyến từ của Đại lão Hòa thượng Thích Như Đạt, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, Viện Hóa Đạo, về Ý nghĩa An Cư Kiết Hạ
 
 
PARIS, ngày 11.7.2011 (PTTPGQT) - Đại lão Hòa thượng Thích Như Đạt, Viện chủ Tu viện Long Quang ở Huế và Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến bài viết về Ý Nghĩa An Cư – Kiết Hạ. Xin mời quý độc giả đọc toàn văn bài viết ấy sau đây :
 
 
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
TỔNG VỤ TĂNG SỰ
VP : Tu Viện Long Quang - Huyện Hương Trà - Tỉnh Thừa Thiên Huế
----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phật Lịch 2555                                                                      Số 01-11/TVTS/KH.T
 
 

Ý NGHĨA AN CƯ - KIẾT HẠ

********

KHUYẾN TỪ

CỦA TỔNG VỤ TRƯỞNG TỔNG VỤ TĂNG SỰ

VIỆN HÓA ĐẠO GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

 
 
Kính gởi :
- Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni.
- Đồng Bào Phật Tử các giới trong và ngoài nước.
 
Kính Bạch Chư Tôn Đức,
Kính Thưa Chư Thiện Tri Thức.
 
Được sự chấp thuận của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, tôi xin có đôi lời mạo muội tìm lại dấu vết và ý nghĩa của Mùa An Cư Kiết Hạ, cũng là tìm lại nền tảng dẫn đạo trong việc giáo hoá Tăng, Tín đồ của Đức Từ Phụ, bậc Thầy của Trời, Người và cha lành chung cho cả 4 loài.
 
Tìm lại gốc tích ấy chính là đóng góp cho sự sống còn của giới xuất gia, những người mang trọng trách "sứ giả Như Lai".
 
Kinh luật đã nói nhiều về thời gian thích hợp cho Mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Mỗi quốc độ lại có một thời tiết khác nhau nên mùa An Cư Kiết Hạ cũng khác nhau. Thời tiết, khí hậu ở Việt Nam có nhiều dị biệt với Ấn Độ, nơi Đức Phật sinh ra, thành đạo và hóa độ chúng sanh, nơi mà mùa An Cư Kiết Hạ được khai mở vào mùa mưa, mùa của muôn loài sinh sôi nẩy nở, để hạn chế Tăng Sĩ đi lại làm tổn thương côn trùng và cây cỏ.
 
Đức Phật đã xiển dương chân lý tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mọi loài đều có dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Chân lý ấy đã vượt ra ngoài không gian vô cùng và thời gian vô tận. Nên hằng năm, mùa An Cư Kiết hạ được tuỳ duyên khai mở sao cho phù hợp thời tiết, đem đến lợi ích tối thắng cho muôn loài.
 
Nước Việt Nam chúng ta, mùa hạ tuy nắng gắt nhưng nhiều nơi lại có mưa rào, vạn vật sinh sôi nẩy nở, cho nên mùa An Cư Kiết Hạ thường được bắt đầu từ rằm tháng tư cho tới rằm tháng 7 âm lịch, quy định Chư Tăng ở yên một chỗ để giảm thiểu sự xâm hại côn trùng cây cỏ và cũng để tạo điều kiện ở yên một chỗ để chư Tăng tinh tiến tu học.
 
Trong Mùa An Cư, Luật không chấp nhận cho các Tỳ Kheo tự do ra ngoài trú xứ, ngoại trừ Phật Sự đặc biệt bất khả khán.
 
Chư vị Tỳ Kheo đã chấp hành y theo Luật Tứ Phần, Luật Ngũ Phần, phải nghiêm túc thực hiện đúng thời khoá An Cư, nếu quá thời gian quy định Phật Sự mà không trở về đúng thời hạn thì mất hạ. Mục đích của người xuất gia là giác ngộ và giải thoát nên việc An Cư Kiết Hạ hằng năm, chư Tăng chấp hành nghiêm túc, không để cho thế sự mê hoặc, phiền não trói buộc, công nọ việc kia, xem thường giới hạ.
 
Ngày An Cư Kiết Hạ viên mãn là ngày giải hạ, giải chế, mãn hạ….Luật Tứ Phần đã dạy : khi mãn hạ công việc người Tỳ Kheo phải tuân hành là : Tự Tứ, Giải Chế, Thọ Tuế, và Thọ Y.
 
Tự Tứ là thành khẩn thỉnh cầu Đại Chúng chỉ bày lỗi lầm để chúng ta sám hối nhằm giúp thân tâm thêm phần thanh tịnh, tăng trưởng đạo tâm.
 
Kinh dạy rằng, ngày rằm tháng bảy là ngày chư Phật Hoan Hỷ, ngày chư Tăng Tự Tứ, kết thúc kỳ An Cư Kiết Hạ. Chư Tăng đã thành tựu Giới Pháp sau 3 tháng trưởng dưỡng thân tâm để nhận thêm thọ tuế thanh tịnh.
 
Tự Tứ cũng là ngày Giải Chế, thân tâm hoan hỷ, viên thành Pháp Hạ, một sự thể hiện tiêu biểu cho công hạnh của người xuất gia. Tự Tứ cũng có ý nghĩa Thọ Y, tạo Phước Điền cho thất chúng quy ngưỡng. Nhờ đó, Tăng Ni và Phật Tử sẽ trân trọng cung kính noi theo để tu học, không phải là việc làm để nhận sự truy thăng khen thưởng của thế gian.
 
Như vậy, tín tâm và sự hành trì trong ba tháng An Cư Kiết Hạ vô cùng hệ trọng. Chư Tỳ Kheo vừa trưởng dưỡng tâm từ bi, không làm tổn hại sinh mạng của chúng sanh qua một mùa sinh sôi nẩy nở, vừa sách tấn nhau tu học để tô bồi pháp thân huệ mạng trên con đường giải thoát, mà Phật Tử tại gia cũng nhờ đó mà kết thiện duyên qua công hạnh hộ giới, góp phần công đức, thâm tín, thân cận Chư Tăng trong mùa An Cư Kiết Hạ. Thật lành mạnh, ấm cúng và thâm tình biết bao !
 
Ngoài ra, chữ MÙA cũng có nhiều nghĩa. Mùa xuân vạn vật đầm ấm, mùa hè vạn vật sinh sôi, mùa thu vạn vật mát mẻ, mùa đông vạn vật chuyển mình cho một năm mới tươi đẹp. Mùa cũng là niềm an vui và hạnh phúc. Mùa lúa, mùa bắp, mùa đậu đều mang ý nghĩa của ấm no đầy đủ.
 
Phật Pháp bất ly thế gian pháp. Mùa An Cư Kiết Hạ cũng là mùa mở đầu cho công việc tu học và hoằng dương chánh Pháp. Mùa An Cư Kiết Hạ là thời gian trong năm dành để kết tập năng lượng, trau dồi ý chí, thân tâm cho người xuất gia cũng như Phật tử tại gia,
 
Kính Bạch Chư Tôn,
Kính Thưa Phật Tử các giới.
 
Thể tướng vũ trụ cùng thế giới loài người luôn luôn chuyển biến khốc liệt. Nhân loại không thể chìm đắm mãi trong khổ đau mà luôn có những bậc vĩ nhân giải thoát, cứu độ. Chính vì vậy mà Đức Phật xuất hiện, thuyết Pháp, độ sanh. Từ đó mới có chư Tăng, đủ ngôi Tam Bảo. An Cư Kiết Hạ là cơ duyên để chư Tăng trau dồi Pháp thân huệ mạng, hầu mong nối tiếp bản hoài cứu độ chúng sanh của Chư Phật, Chư Bồ Tát.
 
Chúng ta vì vô minh che lấp, phiền não nặng nề, nghiệp dày, phước mỏng, tâm dễ buông lung theo thế sự. Thế nên An Cư Kiết Hạ là dịp để điều tiết và chế ngự thân tâm. Thứ nữa, người Trưởng Tử Như Lai phát tâm, Ngũ Trược Ác Thế Thệ Tiên Nhập, và vì Chúng Sanh Nan Điều Nan Phục, rất khó cứu độ, nên chư Tăng phải tuân thủ việc An Cư Kiết Hạ để làm hành trang cho hạnh nguyện của mình. Được như vậy, mới có thể hoàn thành được tâm nguyện " Thuấn Nhã Đa Tánh Khả Tiêu Vong, Thước Ca Ra Tâm Vô Động Chuyễn ", sắt đá có thể tiêu nhưng tâm nguyện không thay đổi.
 
Việc chuyển mê khai ngộ, định bệnh cho thuốc, rất khó khăn. Trước tiên, cần an định thân tâm của chính mình, mới đầy đủ sáng suốt để điều phục chúng sanh. Vì vậy mà Đức Thế Tôn đã chế tác thời khoá An Cư Kiết Hạ để tâm nguyện "thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh" của chư Tăng được thành tựu. Tuy việc giải thoát, độ sanh là khó nhưng không phải là không được, vì Đức Phật dạy rằng : "TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CÁC NGƯƠI LÀ PHẬT SẼ THÀNH" và " TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH". Trong kinh Pháp Hoa, Ngài Thường Bất Kinh Bồ Tát thể hiện sự cung kính của mình khi chấp tay vái lạy tất cả các Vị Phật Đương Lai.
 
Tóm lại, 3 tháng An Cư Kiết Hạ không chỉ điều phục thân tâm mà ngay cả tu sửa Ngôi Tam Bảo, ngói gạch rệu rã, nền móng lung lay, nguy hiểm, giường nệm, y phục, đau ốm, thuốc thang, cơm cháo… cũng lấy An Cư Kiết Hạ điều phục chướng duyên.
 
Và còn nhiều mặt tương quan tương duyên cho Đạo Pháp, cho Quê Hương, cho Đất Nước cần nghiêm chỉnh suy nghiệm trong Mùa An Cua Kiết Hạ, để trên thì đền đáp Tứ Trọng Ân, dưới thì hạ tế Tam Đồ Khổ như Thông Điệp Đầu năm Tân Mão cũng như Thông Điệp Phật Đản Phật Lịch 2555 của Đức Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã ban hành, mà tôn chỉ không ngoài đường hướng của GHPGVNTN :
 
ĐẠO PHÁP KHÔNG THỂ NỞ HOA NƠI GIANG SƠN NÔ LỆ
DÂN TỘC KHÔNG THỂ HẠNH PHÚC NƠI ÁP BỨC ĐÓI NGHÈO.
NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT
 
Phật Lịch 2555 Tu Viện Long Quang
ngày 25 tháng 6 năm 2011
TỔNG VỤ TRƯỞNG TỔNG VỤ TĂNG SỰ
VIỆN HÓA ĐẠO, GHPGVNTN

SA MÔN THÍCH NHƯ ĐẠT
Cẩn Bạch

2011/07/12

MỘT THẾ GIỚI TỪ BI

MỘT THẾ GIỚI TỪ BI
Cư Sĩ Nguyên Giác

Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa tròn 76 tuổi hôm Thứ Tư 6-7-2011, một ngày cũng là khởi đầu cho một loạt buổi thuyết giảng, truyền pháp và hướng dẫn tu học pháp môn Kalachakra cho nhiều ngàn Phật Tử tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Giữa một thế giới đầy bạo lực, trọn cuộc đời của ngài chỉ là để biến nơi này trở thành một thế giới từ bi hơn. Ngài bước đi từ cõi nước này qua lãnh thổ nọ, nói chuyện từ đại học này qua thiền viện nọ... nơi nơi không phải để chiêu dụ cải đạo, không phải để hăm dọa những ai không theo ngài sẽ rớt xuống địa ngục, mà chỉ để làm cho cõi này trở thành từ bi hơn, để người với người thực sự tôn trọng nhau và yêu thương nhau.

Lòng từ bi của ngài thể hiện ngay trong cách xử thế đối với cả các chuyển biến tại quê nhà Tây Tạng. Khi những cuộc biểu tình xảy ra hàng loạt vào tháng 3-2008 tại Lhasa cũng như tại nhiều thành phố và thiền viện Tây Tạng, khi hàng ngàn vị sư ra phố biểu tình, và khi công an Trung Quốc đưa côn đồ trà trộn vào người biểu tình để đốt nhà, để đập các cửa tiệm và để làm mất chính nghĩa bất bạo động của Phật Giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã yêu cầu tất cả tự chế, hãy ngưng ngay bạo động và nhắc nhở chư Tăng phải sống với lòng từ bi.

Trong những cuộc phỏng vấn, nói chuyện trước giờ, ngài cũng luôn luôn nhắc về lòng từ bi, nghĩa là tôn chỉ của yêu thương, tử tế, giúp người.

Những câu nói của ngài thường được báo giới nhắc tới như:

"Đây là tôn giáo đơn giản của tôi. Không cần gì tới chùa chiền; không cần gì tới triết lý phức tạp. Trí óc của chúng ta đây, quả tim của chúng ta đây, chính là ngôi chùa, ngôi đền của chúng ta; triết lý chính là lòng từ bi."

Ngài cũng không đặt vấn đề phải tấn công tôn giáo khác, hay phải hù dọa về hình phạt đời sau đối với người khác đạo. Cái nhìn của ngài lúc nào cũng từ bi: "Tất cả các truyền thống tôn giáo lớn đều căn bản mang cùng một thông điệp, đó là yêu thương, từ bi và tha thứ... điều quan trọng là, các thông điệp này phải là một phần đời sống thường nhật của chúng ta."

Ngôn ngữ tôn trọng các truyền thống tôn giáo khác thật hiếm hoi trên đời này. Chỉ có những người có tâm độ lượng như Đức Đạt Lai Lạt Ma mới gạt bỏ mọi thứ linh tinh để nhìn vào cốt tủy của các tôn giáo và rồi mới thấy cần bao dung nhau.

Trả lời một câu hỏi rằng có thể nào một người vừa là tín đồ Ki Tô Giáo (Christianity, còn dịch là Cơ Đốc Giáo, hay Thiên Chúa Giáo), vừa là Phật Tử được không, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời:

"... Tôi đã trả lời câu hỏi này một cách gián tiếp khi tôi nói rằng niềm tin vào một Đấng Sáng Tạo có thể đi kèm với sự hiểu biết về Tánh Không. Tôi tin có thể bước đi trên đường tâm linh và hòa hài Ki Tô Giáo với Phật Giáo. Nhưng khi tới một mức độ chứng ngộ nào đó, sẽ phải cần lựa chọn giữa 2 con đường này. Tôi mới đây đã có loạt thuyết giảng tại Mỹ và một trong những thuyết giảng này là về sự kham nhẫn và bao dung. Vào cuối buổi thuyết giảng, có một nghi lễ để lập Nguyện Bồ Tát. Một linh mục Ki Tô Giáo trong hội trường muốn lập nguyện này. Tôi mới hỏi vị đó rằng, vị đó có quyền tự quyết định như thế không, và rồi vị này trả lời rằng có quyền đó, dĩ nhiên, vị này có thể lập nguyện, và vẫn là một Cơ Đốc Nhân."

Đạo Phật đã vào Hoa Kỳ với lòng từ bi như thế. Và Đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của lòng từ bi chân thật.

Lòng từ bi đó của ngài là điều mà ngài thể hiện thực sự. Hãy nhìn xem cách ngài đối xử với dân Tây Tạng: ngài đã từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị, để chỉ thuần tuý giữ vai trò người thầy dạy đạo. Không ai có thể ép ngài phảỉ từ bỏ vai trò chính trị. Thậm chí nhiều vị lãnh đạo cộng đồng Tây Tạng lưu vong thỉnh nguyện rằng ngài cần phải ngồi trên ngai vàng muôn năm trường trị. Nhưng không, quyền lực chính trị chỉ là phương tiện để cứu dân, cứu nước – khi thấy cần từ bỏ là từ bỏ liền, và ngài đã thiết lập ngay một nền dân chủ, cho bầu cử tự do để chọn lên một vị Thủ Tướng Tây Tạng lưu vong. Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xóa bỏ định chế 400 năm trên ngôi lãnh đạo của dân tộc Tây Tạng.

Đó là một sự hy sinh hiếm hoi: xóa sổ một định chế lãnh đạo tôn giáo đã có truyền thống nhiều trăm năm. Và Đức Đạt Lai Lạt Ma đã làm một điều tuyệt vời như thế.

Hôm Thứ Năm 7-7-2011, các vị dân cử Hoa Kỳ đã đón ngài tới tòa nhà quốc hội, đã ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma như một cảm hứng toàn cầu, trong khi thúc giục Tổng Thống Barack Obama hãy kình với Trung Quốc để gặp vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng lưu vong.

Chủ Tịch Hạ Viện Hoa  Kỳ John Boehner, nhân vật quyền lực cao hàng thứ 3 Hoa Kỳ, theo Hiến Pháp Mỹ, đứng bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma và nói, "Cuộc đời ngài đã làm điển hình cao thượng cho các nước như chúng ta đang hoạt động để lan trải tự do, bao dung và tôn trọng phẩm giá con người."

Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại về cách Trung Quốc trong năm 1954 đưa ngàì tới Bắc Kinh để dự Đại Hội Đại Biểu Nhân Dân Toàn Quốc đầu tiên, và về cách sau này ngài quan sát quốc hội Ấn Độ dưới thời Thủ Tướng Jawaharlal Nehru.

Đức  Đạt Lai Lạt Ma cười, kể lại, "Tại Bắc Kinh, Quốc Hội họp lặng lẽ. Trong khi ở Ấn Độ, quốc hội họp ồn ào, và các dân biểu cứ ưa thích chỉ trích nhau. Tôi có rất nhiều ấn tượng tốt đẹp về hệ thống dân chủ này, nghĩa là tự do phát biểu, tự do nói, ai cũng bình đẳng cả."

Phải chi ai cũng học được điều này: Tự do và dân chủ là sản phẩm của từ bi và bao dung. Bởi vì có từ bi mới biết thực sự tôn trọng người khác, mới mong muốn làm người khác hạnh phúc.

Từ bi là chìa khóa vậy. Một lần, Đức Đạt Lai Lạt Ma kể về một vị sư già, sau khi bị nhà nước CSTQ giam tù 20 năm, đã vượt biên trốn sang Ấn Độ. Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi vị sư già này, rằng trong 20 năm tù kia, nhà sư lo sợ điều gì nhất. Vị sư già trả lời, rằng trong 20 năm trong tù lúc nào cũng chỉ lo sợ có mỗi một điều: chỉ sợ rằng mình mất đi Bồ Đề Tâm, chỉ sợ có khi nào khởi lên lòng oán giận các cai tù, chỉ sợ có khi nào lòng mình khởi lên căm thù... Chỉ sợ lòng mình không giữ được từ bi, nhẫn nhục...

Trong một buổi họp báo tại Vancouver, Canada vào tháng 9-2006, ngài nói, "Đã tới lúc phải giáo dục mọi người, hãy ngừng mọi tranh cãi nhân danh tôn giáo, văn hóa, quốc gia, hệ thống kinh tế hay chính trị dị biệt. Chiến tranh kình nhau chỉ vô ích. Chỉ là tự sát thôi."

Địa cầu này quả nhiên đã trở nên quá hẹp, mà không bao dung nhau là tất sẽ đẩy nhân loại dần  tới chỗ hủy diệt.

Tấm lòng bao dung của ngài còn thể hiện qua câu nói trong bài phỏng vấn của báo The Daily Telegraph năm 2006, "Tôi không muốn chiêu dụ người khác cải đạo sang Phật Giáo -- tất cả các tôn giáo lớn, khi được hiểu đúng đắn, có cùng một khả thể cho sự tốt đẹp."

Nhưng, tuy từ bi và bao dung như thế, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn nói rõ các dị biệt tôn giáo. Ngài nói trong bài Diễn Văn Buổi Tối Lễ Nhận Giải Nobel, nơi trang 115:

"Đạọ Phật không chấp nhận lý thuyết về Thượng Đế, hay một đấng sáng tạo. Đạọ Phật giảỉ thích rằng, trong tận cùng, hành động của chúng ta mới là đấng sáng tạo... Từ một điểm nhìn, Đạo Phật là một tôn giáo, từ điểm nhìn khác thì Đạo Phật là khoa học về tâm thức và không phải là tôn giáo. Đúng ra, Đạo Phật có thể là một chiếc cầu giữa 2 điểm nhìn này."

Từ bi và bao dung, nhưng vẫn trí tuệ tuyệt vời. Đó là hiện thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma vậy.


Đồng bào Hoa Kỳ đang nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp trước trụ sở Quốc Hội ngày 9 tháng 7 năm 2011 (Ảnh: Tenzin Choejor/OHHDL)

Một thanh niên Phật tử đang chăm chú nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp (Ảnh AP)

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: KỶ NIỆM SINH NHẬT THỨ 76

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
KỶ NIỆM SINH NHẬT THỨ 76 TẠI WASHINGTON, DC

Sarah Khan (Washington Post)

Vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói chuyện trong Pháp Hội Thời Luân cho Hòa Bình Thế Giới 2011 ("Kalachakra for World Peace 2011") tại Trung tâm Verizon ở thủ đô Washington, DC,  ngày 6 tháng 7 năm 2011.  Một nghi lễ Phật giáo kéo dài 11 ngày, được tổ chức lần đầu tiên trong hơn 5 năm qua, cung ứng cho các hành giả tu tập thiền định và cầu nguyện cho hòa bình thế giới.

Đức Đạt Lai Lạt Ma kỷ niệm sinh nhật thứ 76 của mình vào ngày thứ Tư tại Trung tâm Verizon, bao quanh bởi các Phật tử và những người hâm mộ ngài. Lễ này là một phần của Pháp Hội Thời Luân cho Hòa Bình Thế Giới 2011, với sự tham dự của các hậu duệ của cố Mục Sư Martin Luther King Jr và Mohandas K. Gandhi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi tại trung tâm sân khấu với Martin Luther King III, con trai của cố Mục Sư Martin Luther King Jr , người đứng đầu phong trào nhân quyền tại Hoa Kỳ vào năm 1960, và Arun Gandhi, cháu trai của nhà lãnh đạo Gandhi đã vận động độc lập cho quốc gia Ấn Độ vào nhiều thập niên trước đây. Tất cả đều có bài phát biểu ca ngợi những lợi ích của tinh thần bất bạo động, lòng từ bi và hòa bình thế giới.

Cả hai vị Gandhi và King đều nói về gốc rễ của vấn đề bạo lực thể chất và tầm quan trọng của sự gia tăng cảm xúc như không khoan dung, thành kiến và tức giận.
"Chúng ta đã trở thành sự thay đổi mà chúng ta muốn nhìn thấy trong thế giới", Gandi nói, trích dẫn một câu nói của ông nội ông ta. "Chúng ta phải thay đổi chính mình", Gandhi nói thêm.

Đức Đạt Lai Lạt Ma sau đó đã lên sân khấu để nói về tầm quan trọng của sự lạc quan, tự tin và tính chất không quan trọng của cải vật chất, mà ngài nói là sự "đáng xấu hổ". Ngài cũng nói về việc nghỉ hưu gần đây của ngài, từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị, ngài nói rằng ngài đã được cho là "đạo đức giả" khi ngài cổ võ cho việc tách rời vấn đề tôn giáo và nhà nước, trong khi tuyên bố lãnh đạo trong cả hai lĩnh vực.

"Bây giờ tôi có thể nói rằng các cơ cấu tổ chức tôn giáo và các tổ chức chính trị phải được tách biệt. Lời tuyên bố của tôi là chân thực, "

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hoàn tất một nửa cuối cùng của bài phát biểu bằng tiếng Tây Tạng. Đám đông đã hát lên bài hát sinh nhật trước khi ngài rời trung tâm vào lúc 12 giờ trưa.

Trong khi đó, bên ngoài trung tâm, một nhóm hàng trăm người tụ tập trên đường số 7th và diễu hành từ trung tâm đến ngã tư đường 7th và đường 4th.

"Mỗi khi chúng tôi có được một cơ hội, chúng tôi thực sự vui mừng và hạnh phúc khi được diện kiến ngài," Sonam Yangzom, giám đốc Hiệp hội Tây Tạng bang Connecticut, người đã đến đây với khoảng 100 người khác để ăn mừng sinh nhật của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Yangzom đã giúp đưa lên cao một biểu ngữ lớn, ánh sáng màu xanh lá cây chúc mừng sinh nhật Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhiều người vẫy cờ Tây Tạng và cờ Mỹ khi họ diễu hành xuống các đường phố.

Tịnh Thủy
(Theo Washington Post)

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện tại Verizon Center in Washington, DC, July 6, 2011. Ảnh: AFP PHOTO / Saul LOEB

Đức Đạt Lai Lạt Ma đang nhận lời cầu chúc của một cư sĩ Phật Tử Việt Nam. Ảnh: AFP PHOTO / Saul LOEB

Đức Đạt Lai Lạt Ma đang nhận lời cầu chúc của một nữ Phật Tử Việt Nam. Ảnh: AFP PHOTO / Saul LOEB

Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cầu nguyện, bắt đầu buổi lễ. Ảnh: AFP PHOTO / Saul LOEB

Ảnh: AFP PHOTO / Saul LOEB

Martin Luther King III và Arun Gandhi ngồi bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trong phòng chờ. (Ảnh: Sarah Khan)

CÁC HÌNH DƯỚI ĐÂY CHỤP QUANG CẢNH BÊN NGOÀI VERIZON CENTER (Ảnh: Sarah Khan)


Xem Video You Tube:
http://www.youtube.com/watch?v=3XFhWI6QOHg