*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/05/10

Mỹ Quốc: Chỉ Hai Năm Nưã Thôi Sao?

Mỹ Quốc: Chỉ Hai Năm Nưã Thôi Sao?
 
Trích tạp chí Trumpet số ra tháng Hai, 2011
Tác giả Robert Morley
 
Đừng làm lơ với những lời cảnh báo! Những nhà quan sát tin tường cho rằng một nước Mỹ nghiện vay nợ sẽ học được những bài học đắt giá từ những đế quốc đã sụp đổ.

Hai năm nưã thôi, đó là thời gian còn lại để nước Mỹ giải quyết những khó khăn cuả mình - hoặc bị sụp đổ bất thình lình. Đó là kết luận đáng giật mình cuả Niall Ferguson, một sử gia tại ĐH Havard. Và kết luận đó đã từ sáu tháng về trước rồi. Haỹ nhìn nước Hy Lạp - thế giới đã chứng kiến chuyện gì xảy ra khi những nhà đầu tư mất lòng tin vào việc điếu hành ngân sách cuả một quốc gia.

Thực tế là có thể nào một quốc gia giàu có nhất và mạnh nhất thế giới sẽ bất thần bị sụp đổ? Dù sao thì Mỹ không phaỉ là Hy Lạp. Nhưng chính điều đó là sự trục trặc. Nước Mỹ không phaỉ là một quốc gia nhỏ bé nào đó đã lở thâm thủng vài chục tỉ dollars. Nước Mỹ là con nợ lớn nhứt thế giới, và nó nghiện vay nợ - vay hàng ngàn tỉ dollars để duy trì một mức sống không thể duy trì nỗi.

Nó là một đế quốc rõ ràng đang xuống dốc - như Liên Bang Sô Viết cuối thập niên 1980, hay La Mã trong vaì năm trước khi sụp đổ.


Bệnh Nghiện Vay Nợ

Bạn hãy tự hỏi: Cái gì làm nước Mỹ được gắn kết lại? Một tôn giaó chung hay một chủng tộc chung? Một mục tiêu quốc gia chung? Những niềm tin thoát thai từ những nguyên tắc do những cha già lập quốc đặt để? Nếu có điều nào trong những điều kể trên đã là chất liệu gắn chặt nền công hoà này lại thì hiên nay chúng đã tiêu ma mất rồi.

Ngaỳ nay, có lẽ caí mẫu số chung duy nhứt trong nước Mỹ đó là chủ-nghiã vật-chất, mà caí hiến chương rõ ràng nhứt cuả nó là - nợ nần!

Theo Ban Ngân Sách Quốc Hội Mỹ, trong năm 2010 nước Mỹ đã chồng thêm vào đống nợ cuả mình 1.5 ngàn tỉ dollars. Và theo kế hoạch chi tiêu của Tổng thống Obama, Nước Mỹ tiếp tục thâm thủng ngân sách hàng năm hàng ngàn tỉ dollars từ đây cho đến 2019.

Thâm thủng hàng năm hàng ngàn tỉ dollars! Và đó chỉ là khi mọi thứ sẽ diễn tiến đúng theo kế họach: Các cuộc chiến ở Iraq, Afghanistan được thu dọn tươm tất, suy thoái kinh tế không lập lại, công nhân được thu dụng trở lại, những ngân hàng quá-lớn-không-thể-để-cho-sụp-đổ-được không xin chính phủ thêm tiền, và Cục Dự Trữ Liên Bang không phaỉ ôm lấy mấy cái bảng tổng kết tài sản cuả Hiệp Hội Thế Chấp Bất Động Sản Liên Bang và Tập Đoàn Cho Vay Thế Chấp Nhà Liên Bang. 

Còn nếu mọi chuyện không theo đúng kế họach thì sao? Đó là câu hỏi mà các chuyên gia cố tình lẩn tránh hoặc không muốn nghỉ đến nó.

Sự thật đơn giản là caí đất nước một thời vĩ đại này đang nghiện vay nợ và nó sẽ sụp đổ một khi nó không tiếp tục vay tiền được nưã. Căn bệnh nghiện ngập naỳ đi xa hơn loaị nợ vay thế chấp nhà cưả và mua xe cộ trên khả năng trả nợ cuả dân Mỹ. Nó khởi đầu ngay khi người ta phát hành thẻ tín dụng tống tháo cho đám sinh viên mặt búng ra sửa và các trường đại học lo kiếm lời trên từng đồng bạc đám sinh viên này tiêu xaì. Căn bệnh này phát triển qua các tập đoàn uy tín nhứt cuả Mỹ, những tập đoàn phaỉ tiếp cận với các thị trường nợ hàng tháng, hàng tuần, ngay cả hàng ngày mới duy trì hoạt động được. Nó tràn ngập các chính phủ cấp thành phố, đô thị, tiểu bang, những kẻ sẳn sàng phá sản ngân quỹ chung trong việc nhân nhượng những nghiệp đoàn tham lam, và nhồi tiền cho những quỹ hưu bổng quá khả năng duy trì cuả xã hội. Nó dồn lên đến chính phủ liên bang, một chính phủ mất khả năng cân đối ngân sách từ năm 1957. 

Cuối cùng thì căn bệnh đó phát khởi và chấm dứt trên người dân Mỹ, kẻ chìm ngập trong việc thoả mãn các giác quan cuả mình đến mù lòa với tai hoạ treo lơ lững trên đầu.

Nhưng dấu hiệu cuả sự sụp đổ đâu có khó thấy.


Tiền Bạc Cuả Nước Mỹ Đến Từ Đâu?

Vaò tháng 12 (2010) Ủy Ban luỡng viện về thâm thủng ngân sách cuả Tổng Thống Obama đã công bố bản báo caó cuả họ về giải quyết vấn đề khó khăn ngân sách. Những tác giả bản báo cáo nói rằng họ nghĩ có thể cứu được nước Mỹ. Nhưng thực tế là rất ít, nếu có đề xuất nào cuả họ sẽ được áp dụng. Sự khốn đốn cuả nước Mỹ đến độ là cứ 40 cent trong một dollar ngân sách chi tiêu là tiền đi vay. Ngay hiện tại, theo bản báo cáo, chỉ riêng chi tiêu An Sinh Xã Hội, Chăm Sóc Y Tế, Trợ Cấp Y Tế đã ngốn hết tổng thu ngân sách cuả liên bang. Những khoản chi còn lại cuả chính phủ liên bang bao gồm cá chi phí cho hai cuộc chiến tranh, an ninh lãnh thổ, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật vân vân...tất cả mọi thứ còn lại trong thẩm quyền chi tiêu cuả liên bang đều phaỉ tài trợ bằng tiền đi vay. 

Một đứá con nít cũng có thể thấy là tai hoạ sắp xảy ra. 

Vậy đó! Nhưng trước khi baó caó được đăng tải trên các phương tiện truyền thông thì những nhà lãnh đạo cuả quốc hội đã cho nó chết trên bàn sinh. Cắt giảm ngân sách sẽ làm cho họ mất phiếu bầu. Quá nhiều quyền lợi bị xâm phạm.  

Nợ nước Mỹ đã gần 90% GDP. Cuối năm 2011 nó sẽ vuợt 100%, đó là ngưỡng cưả cuả sự khủng hoảng ở các nước Châu Âu.

Vậy mà các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn làm bộ như không có chuyện gì xãy ra.


Trì Hoản Cơn Đột Tử.

Ngaỳ 30 tháng 11, 2010 Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ buộc phaỉ công bố những chi tiết bao quanh chi phí mua nợ khổng lồ cho thị trường chứng khoán Wall Street, các tập đoàn công thương nghiệp và đáng ngạc nhiên là cả các ngân hàng trung ương ngoại quốc.

Hai mươi mốt khoản mua nợ - trị giá 3.3 ngàn tỉ dollars: Đó là khoản Cục Dự Trữ cần dưới dạng nợ đi vay "cứng" để ngăn chặn sự tan rã cuả nền tài chánh Mỹ. Nhưng caí núi nợ này đã đưa nước Mỹ đến đâu? Hệ thống taì chánh Mỹ đã được cứu chữa hay chưa?

Người ta chú ý nhiều hơn vào tầm cở cuả các khoản taì trợ mua nợ, vì 3.3 ngàn tỉ dollars là một khoảng tiền khổng lồ, hơn gấp hai lần khoản thâm thủng ngân sách, nó quan trọng đáng kể đối với kinh tế Mỹ. 

Do đó người ta không để ý đến sự thật là Cục Dự Trử Liên Bang ước tính khoản tiền đó từ không khí. Nhưng sự thật này mới đáng kể là phần lớn trong khoản tiền 3.3 ngàn tỉ dollars Cục Dự Trữ đã dùng để đổi lấy một đống phế thải khổng lồ được nâng giá quá giá trị thực cuả chúng. Trong đó 1.5 ngàn tỉ dollars trị giá tài sản thế chấp được xác định là "không đánh giá được". Chỉ có 1% taì sản thế chấp là trái phiếu chính phủ có giá trị cao.

Cũng có tiết lộ là không những Cục Dự Trữ Liên Bang cho một số ngân hàng trung ương ngoại quốc vay 600 tỉ dollars mà còn cho công ty sản xuất xe hơi ngoại quốc như Toyota, BMW và hàng tỉ dollars cho ngân hàng tư nhân ngoại quốc vay với lãi xuất rất thấp (đôi khi chỉ 0.15 phần trăm)

Nói cách khác, lúc cực điểm cuả cuộc khủng hoảng người ta ngaị rằng Cục Dự Trữ Liên Bang đã in tiền ra cho vay bất cứ người nào đang thoi thóp bất chấp họ là ai và caí gì họ đưa ra để thế chấp.

Cục Dự Trữ Liên Bang cũng cho các quỹ đầu tư, đầu cơ và các qũy hưu bổng vay giá rẻ - như Quỹ Hưu Bổng Các Cầu Thủ Liên Đoàn Bóng Chaỳ - để họ "đầu tư" trong cố gắng tạo lại luồng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Hệ Thống Hưu Trí Công Chức California , một trong những quỹ hưu bổng đang bị chết đuối cuả Mỹ, là một trong những tổ chức hăng hái ôm tiền cuả Cục Dự Trữ: Họ vay 5.14 tỉ để đầu cơ kéo họ ra khỏi tình trạng thiếu nguồn tài trợ. 
Một trong những chương trình cho vay cuả mình, Cục Dự Trữ tạo một vòng mượn nợ, rồi bơm nợ vaò nền kinh tế một khoảng tiền lớn đến chóng mặt - 9 ngàn tỉ dollars.

Theo chương trình đó, chỉ riêng tập đoàn tài chính Citigroup đã vay một khoản khổng lồ 2.2 ngàn tỉ trong các thương vụ đa phương quay vòng giúp cho nó tồn tại. Merrill Lynch vay 2.1 ngàn tỉ trong tổng số 226 món vay. Bank of America vay khẩn cấp 1.1 ngàn tỉ để tránh bị sập tiệm. Ngân hàng naỳ đã một ngàn lần tới lui Cục Dự Trữ xin vay. Để còn có thể tiếp tục làm ăn Morgan Stanley đã phaỉ vay 212 khoản. Ngay cả Công ty Goldman & Sachs khả kính cũng vay 620 triệu qua 84 khoản vay.

Ghê gớm hơn nưã, không phaỉ Cục Dự Trữ chỉ vực dậy các ngân hàng và các quỹ đầu tư mà còn trực tiếp chống đở cho nhiều trong những tập đoàn kinh doanh khổng lồ nổi tiếng cuả Mỹ. Các công ty phá hành thẻ tín dụng, các công ty baỏ hiểm, các công ty sản xuất xe hơi hết thảy đều được vay. Tên một số các công ty này được tiết lộ, nhưng bạn có biết rằng cả công ty sản xuất máy uỉ đất Caterpillar cũng nhận tiền từ chính phủ không?

Rằng công ty truyền thông Verizon Communications đã cần 1.5 tỉ dollars? Rằng Cty sản xuất xe mô tô Harley Davison nhận tiền taì trợ 33 lần tổng cộng 2.3 tỉ? Cty General Electric nhận 12 lần tổng cộng 16 tỉ? Ngay cả tiệm bán hamburger McDonald đã phaỉ vay Cục Dự Trữ Liên Bang.

Giới kinh doanh Mỹ ngập sâu vào cơn nghiện nợ nần đến độ nó phaỉ đi vay tiền hàng ngaỳ và mỗi ngaỳ. Nó cần tín dụng để giử cho việc làm ăn được bình thường. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế sau ngaỳ 11 tháng 9 năm 2008 các thị trường cho vay ngưng lại, không ai cho vay tiền cả. Vậy là ngân hàng thất baị. Chính phủ phaỉ quốc hửu hoá các doanh nghiệp bạc tỉ. Hệ thống đó được cân bằng trên lưỡi dao cạo.

Thử tưởng tượng chuyện gì xảy ra nếu Catepillar, Verizon, McDonald đã thất bại trong việc đấu giá nợ và không vay được tiền? Sự truyền nhiễm sẽ lan ra toàn quốc, thậm chí cả quốc tế. Một hiêu ứng domino khổng lồ sẽ lan tràn thế giới kinh doanh. Cục Dụ Trữ Liên Bang phaỉ nhảy vào cung ứng tiền bạc, nếu không giới kinh doanh Mỹ sẽ hoàn toàn phaỉ đóng cưả.

Nước Mỹ nghiện nợ nần như vậy đó. Chấm dứt vay nợ là cả hệ thống sẽ đột tử. Bạn tin không? Cục Dự Trữ Liên Bang đã phải cho vay 21,000 khoản với lãi suất gần bằng không đễ kích hoạt hệ thống cho nó sống lại.


Tình Trạng Tuyệt Vọng Cuả Nước Mỹ

Làm cách  naò nước Mỹ duy trì được căn bệnh nghiện nợ nần cuả mình? Chúng ta mượn nợ để mua sắm cho chúng ta được tận hưởng và tài trợ cho mức sống cuả chúng ta. Chúng ta dùng tiền vay để duy trì tình trạng sinh hoạt bình thường. Và khi nợ nần chồng chất đẩy chúng ta vào khó khăn, chúng ta vay nợ thêm để kích thích kinh tế và làm thế chân để tạm giải thoát chúng ta.

Nhưng bây giờ thì cơn nghiện vay nợ cuả nước Mỹ rõ ràng đã đến mức độ đe doạ khả năng vay thêm cuả chúng ta. Cơn nghiện lớn đến nỗi thực tế ngày nay là Cục Dự Trữ Liên Bang đang in tiền ra cho chính phủ chi tiêu.

Ben Bernanke, Chủ Tịch Cục Dự Trữ Liên Bang tuyên bố hôm tháng mười một rằng Cục Dự Trữ sẻ phát hành khống 900 tỉ dollars để mua traí phiếu liên bang. Thứ tiền tệ in khống cuả chính phủ đó trong lịch sử đã dẫn đến sự mất giá tiền tệ thê thảm.

Dể hiểu là những nước chủ nợ, do không muốn được trả nợ bằng thứ tiền mất giá, đã nổi giận với tuyên bố đó. Điều này có nghiã là càng ngày nước Mỹ càng khó kiếm nguồn cho vay từ nước ngoài.

Tình trạng đó dể dàng rơi vào tuyệt vọng khi Cục Dự Trữ bắt buộc phaỉ tiếp tục phát hành tiền thêm maĩ đễ tài trợ các chi tiêu cuả chính phủ, và càng làm như vậy càng đẩy các nhà cho vay nợ ngoại quốc ra xa. Chính phủ Mỹ chỉ có thể phát hành trái phiếu vay nợ một khi người ta còn chấp nhận chúng, nhưng khả năng nước Mỹ sẽ xù nợ làm cho sự chấp nhận đó càng ngày càng giảm đi.

Theo Li DaoKui, một ủy viên có bằng cấp trong ủy ban chính sách tiền tệ cuả ngân hàng trung ương Trung Quốc thì tính cách an toàn cuả đồng dollar Mỹ trong việc đầu tư vào nó chỉ tồn tại chừng 6 đến 12 tháng. "Hiện nay, quan ngại cuả thị trường vẫn còn đang ở Châu Âu và từ 6 đến 12 tháng tới đây nó sẽ không chuyển sang nước Mỹ." Ông ta tuyên bố vào ngaỳ 8 tháng 12 (2010) "Nhưng chúng ta phaỉ hiểu rõ rằng tình hình tài chánh cuả Mỹ tệ hơn ở Châu Âu. Trong một hay hai năm tới đây khi tình trạng nợ nần ở Châu Âu được ổn định, sự quan ngại cuả các thị trường tài chánh sẽ chuyễn sang Mỹ, và vaò lúc đó trái phiếu kho bạc cuả Mỹ sẽ gặp phaỉ sự suy thoái đáng kể."

Jim Roger, một nhà đầu tư quốc tế, ghi nhận vào ngaỳ 7 tháng 12 (2010) rằng: "Sẽ đến một lúc người ta nói: ' Tôi sẽ không cho anhh vay nưã. ' ". Khi ngaỳ đó xảy ra người ta sẽ không nhận diện được nước Mỹ nưã.

Một ngày nào đó nước Mỹ thức dậy với một tin được đưa rằng một vụ đấu giá traí phiếu chính phủ dã bị thất bại. Những nhà cho vay đã quá ngán ngẫm. Dù nhiều người có thể trong một thời gian ngắn chưa hiểu ất giáp gì, những người biết chuyện sẽ chạy ra các cưả hàng mua bất cứ thứ gì họ vớ được- tả lót, rượu, đậu, và cả đạn dược nưã. Họ sẽ là những người may mắn. Một số người xoay ra mua vàng bạc  nhưng những thứ kim loại đó chỉ có ích lợi sau này. Sự khan hiếm sẽ xuất hiện khắm nơi và trở thành cơn dịch.

Đó là lúc sự phẩn nộ xuất hiện

Chủ Nghiã Vật Chất được tài trợ bởi nợ nần sẽ biến thái từ là một chất keo lỏng gắn kết hệ thống thành nhân tố tạo ra caí chết bất ngờ cho nó.

Vậy thì caí gì gắn kết xã hội


Sự Chấm Dứt Nền Cộng Hoà

"Lịch sử cho thấy chúng ta sẽ không tồn tại được," Thượng Nghị Sỹ bang Oklahoma, Tom Coburn, nói trong diễn văn đọc tại Uỷ Ban Công Nợ cuả TT Obama hôm tháng 12 (2010) Các nền dân chủ cộng hoà chỉ tồn tai 200 năm trước khi chúng thối rưã từ cốt lõi sau đó chúng bị chinh phục bằng quân sự. Và ông ta nói thêm: "Chúng ta đang thối rưã. Chúng ta đang thối rưã ngay lúc ngồi nói chuyện tại đây, ngày hôm nay."

Tuy nhiên, Coburn đưa ra niềm hy vọng. Có một cách "đánh lưà lịch sử," ông ta nói. "Chúng ta đánh lừa lịch sử bằng cách tất cả chúng ta từ bỏ một thứ gì đó: mọi người đều phaỉ làm vậy...và rồi chúng ta nói, 'Tương lai cuả nước Mỹ là khi mỗi một người bắt đầu hy sinh để chúng ta tạo được một tương lai và tương lai đó để vinh danh những hy sinh to lớn cuả tiền nhân chúng ta.' "

Hãy nhìn chung quanh các bạn. Haỹ nhìn Quốc Hội. Nước Mỹ sẽ được điều gì khi sự hy sinh được chấp nhận trên toàn đất nước?
Thực tế đau lòng là nước Mỹ sẽ không "đánh lưà lịch sử". Đó là một điều tiên tri.

Trong một bài viết năm 1997, Tim Thompson, một nhà bỉnh bút cuả tạp chí Trumpet so sánh nước Mỹ, một xã hội phụ thuộc vào nợ nần, với caí nhà mồ được sơn phết trắng tinh trong kinh thánh chương Matthiew 23:27: "Bên ngoaì nó trông đẹp đẽ - nó có vẻ vững chắc, thịnh vượng - nhưng bên trong chưá ' đầy xương người chết và tất cả mọi thứ đều dơ bẩn' - nó là một ác mộng tài chánh được xây dựng bằng đạo đức giả và chưá đựng đầy những thứ thối rưả.

Như ông Thompson đã nói, vay nợ có thể làm cho nước Mỹ có vẻ thịnh vượng, nhưng bề ngoài không có ý nghiã gì nhiều. Nền cọng hoà Mỹ Quốc mục rỗng từ bên trong và thời gian thì không còn bao nhiêu.

Tháng Bảy năm ngoái, sử gia Niall Ferguson nói trước cử toạ gồm những nhà lãnh đạo doanh nghiệp và những nhà khoa bảng tại Lễ Hội Ý Tưởng ở Aspen rằng cưả sổ cho nước Mỹ xoay chuyễn tình thế đang dần dần khép lại. "Về lãnh vực tài chánh và một số lãnh vực khác", nước Mỹ, "đang rất gần với bờ vực cuả sự hổn loạn" Ông cảnh báo. "Tôi nghĩ đây là một tình thế thực sự sẽ xảy ra trong một thời gian rất cận kề."

"Theo ý nghiã đó" ông tiếp, "Tôi cho rằng chỉ trong vòng hai năm tới"




Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Mùa Sen

Mùa Sen

Thanh Nhã

Buổi sáng thức dậy, một đoá Sen trong hồ nhà vừa ngoi lên mặt nước, chợt nhận biết mùa hè đang hiện diện. Hình như hoa Sen cũng là một biểu tượng của mùa hè, đặc biệt mùa hè Huế, như phượng vĩ, như ve sầu.

Kiến trúc Kinh thành Huế với nhiều hệ thống sông, hồ: Hộ thành Hà bao quanh Kinh thành, Hồ Kim thuỷ bao quanh Hoàng thành, Hồ Thái Dịch nối liền Ngọ Môn với Điện Thái Hoà, Hồ Tịnh Tâm, Hồ Mưng, Hồ Thuỷ Ngữ trong khu vực Nội thành v v.  Rồi trong các lăng tẩm, chùa chiền đều có các hồ nước như một biểu tượng của phong thuỷ. Có lẽ Hồ bán nguyệt ở chùa Từ Hiếu với sắc nước xanh biếc quanh năm đã là một ấn tượng khó quên cho những ai đã một lần đến.

Một loài hoa đã tồn tại từ bao nhiêu đời nay trong các ao hồ ở Huế và cứ mùa hè lại dịu dàng toả hương, một mùi hương thanh khiết và cao quý  tạo một cảm giác thanh thoát khó tả cho người chiêm ngưỡng nó: Hoa Sen.

hoa_sen_1

Không như Hoa Súng, chỉ vươn lên mặt nước một khoảng cách ngắn, lá thì nằm sát mặt nước. Lá, hoa của Sen đều vươn cao như muốn thoát ly khỏi mặt hồ, đón ánh nắng từ bầu trời cao rộng. Vẻ đẹp thanh thoát của Sen dường như đối nghịch với gốc rể của nó. Sen đã thoát ra từ bùn, một nơi bị xem là dơ bẩn. Chiêm ngưỡng cái đẹp thanh cao của Sen, người ta thường quên mất sự lặng lẽ, nhận chịu của bùn. Bùn đã cho Sen sự sống, cho Sen vẻ đẹp và nhận về mình sự khinh miệt. Những cánh Sen hồng, Sen trắng toả hương thanh khiết, đem cái đẹp đến cho đời, mỗi mùa Sen đi qua, hoa Sen nở, rồi tàn, chỉ có bùn cứ mãi còn lại, lặng thầm dâng hiến cho đời những đoá Sen thanh khiết.

Nếu nhìn mối tương quan giữa bùn và Sen bằng cái nhìn Duyên Khởi, hẵn ca dao Việt Nam khi ca tụng Sen:

"Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"

sẽ có một cái nhìn khoan hoà hơn với bùn.


Tương truyền khi Đức Phật đắc đạo xong, Ngài  do dự không biết có nên truyền bá cho chúng sinh chân lý mà mình vừa tìm ra không? Thần Brahma Sahampati  liền hiện lên thuyết phục Ngài nên đem những điều mà mình đã giác ngộ để chúng sanh cùng được giải thoát. Lúc ấy Phật nhìn trước mặt, thấy một đầm Sen, có những hoa Sen xanh, Sen hồng, Sen trắng đang còn ẩn dưới mặt nước, có hoa Sen đã vươn lên tới mặt nước, cũng có những hoa đã vươn lên khỏi mặt nước. Cũng vậy, trên thế gian, chúng sanh cũng có nhiều hạng người, có kẻ trí, người ngu… Ngài bèn nói "Chân lý sẽ mở rộng cửa cho kẻ nào chịu nghe".
 
Hoa Sen đã là một biểu tượng cho sự giác ngộ trong Phật giáo. Mùa Sen nở ở Huế cũng chính là mùa Phật Đản, những bông Sen được trang trọng cắm trên các bàn thờ Phật ở khắp các chùa Huế và các bàn thờ Phật ở nhà. Sen không chỉ nở trong các hồ, Sen còn nở trên những nan tre thanh mảnh, trên những mảnh giấy màu trong bóng hay mờ, nhiều màu sắc: Hoa Sen của những chiếc lồng đèn Phật Đản. Từ mồng Tám Âm Lịch, những chiếc lồng đèn hình hoa Sen hay những chiếc đèn ú có in hình hoa Sen đã thấp thoáng xuất hiện trên các nẻo đường thành phố. Người Huế vốn có một đời sống tâm linh mạnh mẽ. Đạo Phật đã đi vào tâm thức của họ từ rất lâu, có lẽ bắt đầu từ những ngày đầu tiên Chúa Nguyễn vào trấn ngự đất Thuận Hoá, xây Chùa Thiên Mụ. Tiếng chuông u trầm lan trong không gian tĩnh lặng của dòng Hương đã thành một âm thanh quen thuộc đối với người dân Huế. Phật Giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá và tâm linh của người dân ở đây.
 
Phật Đản là một trong những lễ lớn của  người Huế. Ngoài lễ chính tổ chức ở Chùa Từ Đàm, hơn  trăm ngôi chùa của Huế đã mở rộng cửa đón khách thập phương đến lễ Phật và thọ trai. Chùa Diệu Viên cũng vậy.  Đây là một trong hai mươi tám ngôi cổ tự của Huế, nằm ở khu vực phía Đông Nam thành phố, trong một khuôn viên khá rộng cạnh dãy núi Ngũ Phong. Có lẽ ít ai biết đây là ngôi chùa nữ đầu tiên của Huế. "Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am giữa vùng núi đồi u tịch, nơi thờ tự của một vị quan lớn triều Tự Đức. Cuối đời Khải Định, chùa được chuyển nhượng cho cụ bà Ưng Dinh, nhủ danh Hồ thị Thế Anh, Cụ Bà uỷ thác cho Tỳ kheo Chân Kim trông nom, tu trì. Khi tỳ kheo lên chùa Viên Thông tu chứng, sư bà Hướng Đạo, là em gái của tỳ kheo được mời về làm toạ chủ khai sơn". Từ đó chùa chỉ nhận các ni sư. Như những ngôi cổ tự khác của Huế, không gian ở đây thật tĩnh lặng, dường như mọi phiền luỵ, ô trọc của cuộc sống đã được dũ sạch ngay khi bước chân đến cổng Chùa. Đó là chiếc cổng cổ ba tầng tạo hình như một chiếc cổng tạc từ sườn núi, tầng trên hết là bức tượng Thế Tôn ngồi kiết già nhập định, tầng thứ hai thiết kế bức tượng Bồ Tát Quán Thế Âm rảy nước cành dương với hai câu đối đáp nổi ở hai bên như được khắc vào đá

Tử trúc lâm trung, túc đạp hồng liên thiên diệp nộn
Thanh phong toà thượng, thủ trì thuý liễu nhất chi xuân

(Trong rừng trúc tía, chân đạp sen hồng nghìn lá nỏn
Trên đỉnh núi xanh, tay cầm liễu biếc, một cành xuân).

Khuôn viên chùa khoáng đãng có những hàng đá núi viền quanh một cách tự nhiên tăng thêm vẻ cổ kính của ngôi cổ tự.

Các ni sư ở đây không chỉ tu trì mà còn tham gia hoạt động từ thiện xã hội. Trước đây, Chùa đã xây dựng được một bệnh xá, trường sơ học, vườn trẻ Lâm Tì Ni. Hiện nay, Chùa là nơi nương tựa của 22 người già neo đơn với một Viện Dưỡng Lão và một trường Mẫu Giáo với 150 em học sinh nghèo. Sư Cô Diệu Đàm là người phụ trách chính cơ sở từ thiện này.
 
Đêm Phật Đản, thành phố Huế như lung linh, ảo huyền hơn trong ánh sáng toả ra từ các đoá Sen đủ màu sắc. Mùi hương Sen quyện với mùi hương trầm thoảng trên dòng Hương cũng đang ngập tràn ánh sáng lung linh của những đoá Sen bềnh bồng  trong lễ phóng đăng.

Những năm gần đây, mỗi Mùa Phật Đản, dòng Hương lại lấp lánh ánh Sáng huyền nhiệm của bảy đoá Sen khổng lồ. tượng trưng cho bảy bước chân của Đức Phật Thích Ca. Đó là ý tưởng của quý tăng ni trẻ mà người đứng đầu là Thầy Thích Không Nhiên (Tâm An). Khi Bài ca Sen trắng được cất lên từ Bến Nghinh Lương Đình, bởi một dàn hợp xướng chuyên nghiệp cùng với trầm hương ngào ngạt được đốt lên ờ bờ sông Hương thì cũng là lúc những đoá Sen từ từ nở ra, từng đoá, từng đoá, như thể những gót chân của Đức Phật Thích Ca đang từng bước ngự trị.


Ánh sáng từ bảy đóa Sen trên dòng Hương mỗi Mùa Phật Đản cũng là ánh sáng của Trí Tuệ và Từ Bi đang thắp sáng mỗi người con Phật của Huế, trong  mỗi Mùa Sen.

 
Thanh Nhã
Sửa đổi và viết thêm
Tháng 4 năm 2011


Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/05/09

CÁO TRẠNG SỐ 1 CỦA PHONG TRÀO NHÂN DÂN CHỐNG THAM NHŨNG

CÁO TRẠNG SỐ 1 CỦA PHONG TRÀO

NHÂN DÂN CHỐNG THAM NHŨNG

 

Kính thưa Đồng bào và Anh em chiến sĩ,

Trong bài nói chuyện với Công chức, cán bộ toàn quốc tại Vũng Tàu ngày 10-7-1973 về cuộc Cách mạng Hành chánh phải hoàn thành trong vòng 6 tháng từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1973. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã hoạch định mục tiêu của cuộc Cách mạng đó là phải trừ tham nhũng tận gốc rễ. Tiếp theo ông lại tuyên bố: "Tham nhũng không những là quốc nạn mà còn là quốc nhục".

Nhân dân những tưởng rằng vị Nguyên thủ Quốc gia đã thấu hiểu được sự tình và sẽ có những biện pháp chung quyết để chấm dứt tệ trạng nói trên. Song tiếc thay! Những gì nhân dân đã chứng kiến sau đó cho thấy sự thật phũ phàng với những vụ tham nhũng tày trời mà những người chủ động không thể là ai khác ngoài những người thân cận nhất với ông Tổng thống và ngay cả cá nhân ông.

Bởi thế, hôm nay, Quốc dân Đồng bào và anh em chiến sĩ cần đặt thẳng vấn đề với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về một số trường hợp tai tiếng sau đây, với đầy đủ bằng chứng để phân đục trắng đen.

 

Trường hợp thứ nhất: NHÀ CỬA

Khi còn là Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đã được cấp một căn nhà trong cư xá Bộ Tổng Tham mưu và một ngân khoản 500.000 đồng để tu bổ, trang trí như một số các tướng tá khác. Nhưng khi làm Chủ tịch ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, mặc dù đã có sẵn dinh Độc Lập và bao nhiêu Dinh số 1, số 2, số 3 v.v... tại Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Vũng Tàu, Nha Trang v.v... ông còn chiếm thêm 2 căn nhà của cư xá Bộ Tổng Tham Mưu nữa và lấy 30 triệu đồng bạc để tu bổ và trang trí, chưa kể một đại đội công binh được biệt phái làm việc không công.

Ba căn nhà đó đã bỏ không 9 năm nay và còn có thể bỏ không thêm 5 năm nữa vì ông đã sửa đổi Hiến pháp để ngồi lại thêm 5 năm nữa, cộng chung là 14 năm, trong lúc bao nhiêu là tư lệnh sư đoàn, Tướng Tá khác không có một căn nhà để ở.

Ông Tổng thống chỉ có 2 người con, trưởng nữ đã xuất giá, còn thứ nam thì được ông mua một biệt thự của hãng Shell ở đường Phan Đình Phùng Sài Gòn giá trên 40 triệu đồng. Vừa rồi ông còn mua sở đất của Đồn Điền Đất Đỏ (Plantation des Terres) đường Công Lý Sài Gòn giá 98 triệu đồng để tên phu nhân, còn tiền thì do ông Nguyễn Xuân Nguyên, anh em cột chèo của ông Tổng thống, Chủ tịch Công ty Phân bón Hải Long, viết chi phiếu để trả. Đó là chưa kể một biệt thự nguy nga ông tậu ở Thụy Sỹ mà đồng bào có dịp xuất ngoại đã trông thấy.

Như vậy, việc chiếm hữu ba căn nhà trong cư xá Bộ Tổng Tham mưu phải chăng cho thấy lòng tham quá độ và sự lạm quyền quá lố của ông không?

Ông lấy tiền đâu mà mua nhà cửa như thế, và khi mua sắm, ông đã đóng bao nhiêu thuế trước bạ cho ngân sách quốc gia? Ông có chịu điều kiện cho Đồn Điền Đất Đỏ chuyển ngân về Pháp không? Việc làm của ông có đi đôi với chính sách thắt lưng buộc bụng do chính ông hô hào không? Phải chăng đó là một tội tham nhũng, một tội hối mại quyền thế, một sự che mắt Quốc Dân với những lời lẽ mạnh mẽ hô hào chống tham nhũng?

Với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực ông có cảm thấy sự thẹn với lương tâm binh sĩ: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà không có để ở, có khi vợ phải đi làm con điếm nuôi con, tinh thần và thể xác hi sinh hết cho đại cuộc quốc gia?

 

Trường hợp thứ hai: ĐẤT ĐAI

Dân Đà Lạt không mấy ai không biết thuở vườn ông mới chiếm bên bờ Hồ Xuân Hương rộng 3 mẫu, tính giá rẻ mạt cũng phải 2000 đồng một thước vuông thì trị giá ít ra cũng phải 60 triệu đồng. Nhà chưa làm nhưng đường xá đã mở mang rất đẹp, điện nước đầy đủ, trồng hoa cảnh huy hoàng. Công binh và công chánh phải tốn bao nhiêu xăng nhớt, vật liệu, nhân công để trang trí cho thuở vườn ấy của ông?

Ngoài ra, còn biết bao sở đất ông chiếm hữu và bỏ không từ nhiều năm nay như sở đất sau trường Đại học Đà Lạt, mấy trăm mẫu vào gần Gia Rai trên Quốc lộ 1, mấy trăm mẫu ở Long Khánh, Gia Định và nơi khác?

Dân nghèo nhưng thiếu đất làm ăn, dân tị nạn thương phế binh và quả phụ không có một chỗ cắm dùi, thì lương tâm và trách nhiệm của một vị lãnh đạo một quốc gia đương lâm chiến rách nát, có cho phép ông bạo chiếm nhiều vùng đất phì nhiêu và bỏ hoang như thế không?

Nếu do các Tỉnh trưởng, Thị trưởng nịnh hót dâng hiến thì ông há không biết đó là công thổ, chiếm lấy là cướp giựt của dân? Một vị lãnh đạo công minh phải từ chối và cách chức ngay các kẻ lấy của công sản để lo lót mua địa vị cho họ, ông nghĩ sao?

Toàn dân đau khổ triền miên và đặc biệt là đồng bào các vùng giới tuyến Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Tín, Bình Định, Bình Long đã bỏ nhà cửa ruộng vườn, mồ mả cha ông, chạy tán loạn, kéo lê cuộc đời dở sống dở chết trên những cồn cát cằn cõi, trong những rừng lá đầy chướng khí, sẽ nghĩ thế nào về ông?

 

Trường hợp thứ ba: ĐẦU CƠ PHÂN BÓN

Đã mấy năm nay, nông dân điêu đứng vì nạn khan hiếm phân bón, phải trả giá vàng mới mua được, trong khi họ biết rõ một phần quan trọng của ngoại viện đã dành để nhập cảng phân bón và thuốc sát trùng để yểm trợ cho chương trình phát triển nông nghiệp. Trước sự phẫn uất cao độ của dân chúng, một nhóm Dân biểu Hạ Viện đã mạnh mẽ tố cáo một số Tỉnh trưởng, Dân biểu, Nghị sĩ đã cấu kết với gian thương đầu cơ tích trữ, tạo ra tình trạng khan hiếm để bóc lột nhân dân.

Không thể bưng bít được nữa, Thượng viện đã phải lậo Uỷ ban Điều tra.

Sau 3 tháng làm việc, Uỷ Ban này mà thành phần gồm đến 9 phần 10 là những nghị sĩ chân chính, đã lập một hồ sơ tuy còn thiếu sót nhưng chứa đựng nhiều dữ kiện đáng kể. Theo hồ sơ ấy, tổ chức phạm tội đầu cơ phân bón lớn nhất là Công ty Hải Long mà Chủ tịch là Nguyễn Xuân Nguyên, anh em cột chèo của ông Tổng thống và là người đã ký chi phiếu trả tiền mua sở nhà đất của Đồn Điền Đất Đỏ cho bà Nguyễn Văn Thiệu. Khi câu chuyện vỡ lở, ông đã mời Uỷ Ban Điều tra vào dinh Độc Lập ăn sáng và bảo mang hồ sơ vào ông xem rồi giữ hồ sơ này lại yêu cầu ủy ban "đừng làm khó dễ công ty của chúng tôi nữa".

Được thể, Nguyễn Xuân Nguyên không thèm ra trả lời trước Uỷ Ban Điều tra theo giấy mời của ủy ban này.

Nghị sĩ Trần Trung Dung và Uỷ Ban của ông phải xin hoãn thêm một tháng, mượn cớ là để điều tra bổ túc nhưng kỳ thực là để lập một hồ sơ khác, trong đó không còn có tên Công ty Hải Long nữa.

Theo điều 68 Hiến Pháp, Tổng thống "không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư dù có thù lao hay không?" Ở đây, ông Tổng thống đã hùn hạp với Công ty Hải Long hay ít ra là đã bảo trợ cho Công ty này trong vụ đầu cơ phân bón nói trên như thế, ông có thể nào chạy được tội vi hiến và tham nhũng không?

Hậu quả của sự đầu cơ đó làm cho giá phân tăng vọt lên theo giá lúa lên cao, gây ra cảnh đói kém cho toàn dân. Ước tính thấp nhất cho thấy nhân dân đã mất trên 30 tỷ bạc cho gian thương và tham nhũng trong vụ đầu cơ này.

Còn đâu là "Cuộc Cách mạng Xanh" với lúa Thần Nông không phân bón? Cách mạng Xanh đã bị tham nhũng bóp chết và trớ trêu thay! Chính người đề xướng lại là thủ phạm!

 

Trường hợp thứ tư: BỆNH VIỆN VÌ DÂN

Bốn chữ "bệnh viện vì dân" nghe rất hay vì gợi ý rằng dân nghèo sẽ có nơi nương tựa khi ốm đau, nhưng sự thật quá sức phũ phàng vì hai chữ "Vì Dân" chỉ là một bức bình phong che đậy bao nhiêu việc làm tồi tệ.

Các cơ sở điều trị tối tân của bệnh viện được xây cất trên một khoảng công thổ rộng và đẹp nên không tốn tiền mua. Tiền xây cất một phần do sự đóng góp của các người lấy điểm với phu nhân Tổng thống, một phần do tiền phụ trội vé số kiến thiết và vé hát, một phần khác là quà tặng gửi bằng hiện kim hiện vật của các nước bạn giúp dân nghèo Việt Nam, và phần lớn còn lại là tiền bán các tang vật buôn lậu do quan thuế bắt được như rượu Tây, thuốc lá Mỹ, vải Nhật, máy móc v.v... đều bị bà Nguyễn Văn Thiệu dành lấy, nói là để sung vào quỹ bệnh viện để giúp dân nhưng không có sổ sách nào chứng minh. Số tiền thu được không dưới mấy trăm triệu một năm tức lên hàng tỷ bạc bốn năm nay. Thế mà bệnh viện kia lại là tư sản của bà Nguyễn Văn Thiệu và của Hội Phụ nữ Phụng sự Xã hội của bà.

Các y sĩ điều trị trong bệnh viện đều được Bộ Y tế, Cục Quân Y biệt phái theo tiêu chuẩn thân cận nhiều ít với bà hay đàn em của bà.

Dân được hưởng những gì? Tiền phòng quá đắt, dân nghèo không mon men vào được. Các phòng miễn phí vào khoảng 100 giường nhưng điều kiện nhập viện rất khó, chưa kể tiền phải tốn thêm cho bác sĩ, thuốc men, nên đại đa số dân nghèo bị gạt ra ngoài.

Hai chữ "Vì Dân" rõ ràng đã bị bán đứng với ý đồ đen tối che mắt Quốc tế nhưng không che mắt được người dân. Là nơi tiếp thu tất cả các tang vật buôn lậu, bệnh viện Vì Dân đã bị coi là cơ sở buôn lậu hợp pháp.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tự xưng là người trực tiếp cầm quân đánh vào dinh Gia Long nói là để triệt hạ một chế độ độc tài, gia đình trị, thế thì ông trả lời thế nào với Quốc Dân về chế độ độc tài, gia đình trị, và thối nát hiện tại còn tồi tệ hơn chế độ trước bao nhiêu lần trong việc cấu kết với những người thân tộc để tham nhũng và dĩ công vi tư? Phải chăng đó là một quốc nạn và một quốc nhục, một sự phản bội những người đã hy sinh cho một cuộc trường kỳ chiến đấu gian khổ của quân ta trên 1/4 thế kỷ nay?

 

Trường hợp thứ năm: BUÔN BÁN BẠCH PHIẾN

Đã mấy năm qua, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu luôn luôn hô hào bài trừ bạch phiến, ma túy, với những bích chương dán khắp nơi. Nhưng có người bắt bạch phiến, ma túy, thì cũng có người buôn bán bạch phiến ma túy ngay dưới ánh mắt của những người hữu trách. Dân chúng nghi ngờ đây là một sự vừa ăn cướp vừa la làng những tưởng chỉ có một số cấp thừa hành nào đó phạm tội tày trời nói trên. Nào ngờ theo cuốn "Chánh Trị Bạch Phiến ở Đông Nam Á" (The Politics of Heroin in Southeast Asia) xuất bản năm 1972, mà tác giả là Alfred W. McCoy, thì hỡi ôi chính ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm là những người cầm đầu tổ chức buôn bán bạch phiến, ma túy tại miền Nam này.

Sách này bị tuyệt đối cấm nhập cảng vào Việt Nam, nhưng nó cũng đã lọt được vào mắt xanh của những người tìm hiểu.

Theo sách đó, việc buôn bán bạch phiến ở miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của hai ông Tổng thống và Thủ tướng, đã được các viên chức thân cận nhất của hai ông cho nhập cảng lậu rồi phân phối cho những tổ chức buôn lậu quốc tế đặc biệt là Bang Triều Châu ở Chợ Lớn. Tác giả nói rõ vị Tướng phụ tá An Ninh và Quân Sự của Tổng thống trực tiếp chỉ huy hệ thống buôn lậu từ các nước ngoài và phân phối khắp 4 quân khu. Các lực lượng quân đội được sử dụng cho đường dây buôn lậu này gồm cả Hải, Lục, Không quân, Lực lượng đặc biệt, nhiều vị Tư lệnh vùng, Cảnh sát và Quan thuế. Quyển sách cũng cho biết lúc quân đội Đồng Minh còn ở Việt Nam, mỗi năm, việc buôn lậu bạch phiến, ma túy đem lại một lợi tức khổng lồ là 88 triệu Mỹ kim tức vào khoảng 57 tỷ bạc Việt Nam, tính trung bình trong 5 năm thì lợi tức đó lên tới 285 tỷ bạc. Nếu đem chia số lợi tức này cho 19 triệu dân miền Nam thì mỗi đầu người được trên 15 ngàn đồng. Vì cuộc buôn bán đó đương còn tiếp tục nên lợi tức kia tăng thêm ít ra cũng tới 400 tỷ bạc.

Chắc ông Tổng thống và Thủ tướng chỉ được một phần thôi nhưng ít ra cũng được 50/60 tỷ. Nhưng điều tai hại hơn hết không phải là mất mấy trăm tỷ bạc vào tay tham quan ô lại và gian thương mà là di độc nó gây ra cho dân tộc nhất là giới thanh thiếu niên trong nhiều thế hệ.

Sách ấy bán ra khắp nơi trên thế giới, tường thuật tỉ mỉ những đường dây di chuyển, những nơi đổ hàng kể cả những vụ đổ bể vì phe cánh ghen ăn phá nhau tại nhiều phi cảng, hải cảng và giang cảng ở miền Nam và Cao Nguyên. Danh tánh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được nêu rõ cùng với danh tánh của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và một số Tướng lãnh, Dân biểu, Nghị sĩ, Sĩ quan cao cấp thuộc hạ.

Nếu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho là vô căn cứ thì ông phải kiện tác giả cuốn sách ấy tại Tòa án Quốc tế hay một Toà án nào ông thấy cần, vì đây không phải chỉ cá nhân ông bị liên hệ mà cả danh dự quốc gia Việt Nam bị bôi nhọ. Nếu ông không chịu tỏ thái độ thì dân chúng Việt Nam sẽ đứng lên kiện tác giả quyển sách này nhưng với điều kiện là nếu tác giả trưng đầy đủ bằng chứng và thắng kiện thì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải chịu án phí và những hậu quả của bản án.

 

Trường hợp thứ sáu: VỤ GẠO MIỀN TRUNG

Sáu triệu dân miền Trung thiếu gạo, đói khổ hơn 1 năm nay; Chính phủ phải trợ cấp tiền chuyên chở để giá gạo ở Huế, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Quảng Ngãi cũng xấp xỉ giá ở Sài Gòn. Nhưng dân nào có được hưởng chỉ vì hành vi bóc lột trắng trợn của một mệnh phụ có quyền thế lớn.

Dân miền Trung tiêu thụ mỗi tháng 80.000 tấn gạo. Một phần nửa do gạo địa phương và khoai sắn cung cấp, còn 40.000 tấn phải được tiếp tế hàng tháng. Tiền yểm trợ mỗi tháng cho vùng Nha Trang, Tuy Hòa là 2000 đồng và 2500 đồng cho vùng Quảng Ngãi, Quảng Tín, 3000 đồng cho vùng Đà Nẵng, Huế. Đổ đồng 90 triệu bạc cho 40.000 tấn mỗi tháng. Nhưng người ta đâu có chở đủ 40.000 tấn gạo mỗi tháng ra Trung. Do đó, chỉ dân thành thị mua được gạo tự do, còn dân các Xã, Ấp xa chỉ mua được mỗi gia đình 5 ký lô gạo theo giá chính thức, số còn thiếu phải mua giá chợ đen cắt cổ. Việc bán gạo bị hạn chế, lấy cớ ngăn cản không chở gạo qua vùng Việt Cộng nhưng các viên chức của Chính quyền mua gạo Mỹ giá rẻ, bán lại giá cao cho gian thương để kiếm lời. Cảnh sát có bắt được cũng làm ngơ hay thông đồng, nhắm mắt cho con buôn tiếp tục bán gạo qua bên kia nuôi Việt Cộng.

Việc hạn chế chỉ nhằm giảm số gạo chở ra Trung xuống độ 20.000 tấn mỗi tháng giúp lái buôn ăn không trên 40 triệu đồng tiền yểm trợ chuyên chở hàng tháng, tức 480 triệu mỗi năm, chưa kể các tiền lời khác.

Người bao thầu chở gạo ra miền Trung là Phạm Sanh, Chủ tịch Nam-Việt Ngân hàng. Người bao thầu phân phối gạo ở miền Trung là mệnh phụ Ngô Thị Huyết, tức Sáu Huyết là cô ruột của Tổng thống Thiệu, mẹ đẻ của Tổng trưởng Dân Vận Hoàng Đức Nhã. Bà Sáu Huyết thông đồng với Phạm Sanh để chia nhau số tiền yểm trợ chuyên chở đó. Vì thế, dù Nam Việt Ngân hàng đã bị Ngân Hàng Quốc gia cảnh cáo nhiều lần về sự quản trị bê bối, Phạm Sanh vẫn được Tổng trưởng Thương mại và Kỹ nghệ ứng trước tiền mua gạo ra miền Trung với bạc tỷ. Phạm Sanh cứ trễ nãi trong việc thi hành khế ước buộc Tổng Cường phải phạt y 240 triệu đồng.

Phạm Sanh dại gì mà không trễ nãi khi được bà Sáu Huyết đỡ đầu.

Một tỷ bạc ứng trước đem làm các dịch vụ khác hay bỏ vào ngân hàng cũng dễ kiếm được 30 triệu bạc lời mỗi tháng. Trễ 3 tháng là kiếm được lời gần 100 triệu. Chia đôi mỗi người 50 triệu. Tuy có lệnh phạt 240 triệu, chưa chắc Phạm Sanh đã chịu nạp ngay mà có lẽ không nạp cũng nên.

Dân miền Trung đói kém phải ăn củ năng, củ chuối kể cả xương rồng, đến nỗi phải chết tức tưởi, nhưng người ta đâu thèm nghĩ đến miễn là mỗi tháng bỏ túi được 50, 60 triệu đồng.

Đây quả là một quốc nạn vì bao nhiêu người phải đói chết vì nó. Đây quả là một quốc nhục vì do một mệnh phụ cô ruột của ông Tổng thống, mẹ đẻ của ông Tổng trưởng, bóc lột xương máu dân nghèo miền Trung.

"Lời oán than của dân chúng quả đã lên tận Trời cao vì tham nhũng là gươm đao giết họ".

Dưới mắt dân chúng, tham nhũng đi đôi với quyền hành. Quyền hành càng lớn thì tham nhũng càng nhiều và tham nhũng khủng khiếp, hiện tại chỉ có thể có là tại vì chính vị nguyên thủ quốc gia đã bao che và chủ động.

Tham nhũng đúng là một quốc hận vì nó bóc lột nhân dân đến tận xương tủy, đâm sau lưng chiến sĩ, phá hoại nền kinh tế quốc gia, hủy diệt sức đề kháng của dân tộc.

Tham nhũng đúng là một quốc nhục được vị nguyên thủ quốc gia chủ trương làm mất thanh danh quốc gia trên trường quốc tế khiến cho địch khinh và bạn chán. Bất cứ người dân Việt nào xuất ngoại cũng cảm thấy tủi hổ khi nghe những người quốc bạn với nước ta thốt ra những câu nói chua chát như sau đây:

- "Chúng tôi có cảm tình với quý ông nhưng chúng tôi tiếc không bênh vực được cho lập trường của quý ông, chỉ vì Chính phủ của quý ông quá thối nát, tồi tệ".

Thử hỏi ông Tổng thống và Chính phủ ông có cảm thấy xấu hổ về lời nói trên đây của những người bạn chân thành với dân tộc ta không?

Lâu nay, nhân dân cắn răng chịu đựng vì tin vào ý chí chống Cộng của ông Tổng thống. Sợ làm ra điều gì thì có thể gây hại cho đại cuộc. Nhưng khi các tài liệu mật của Hội Nghị Đình Chiến được công bố nhân dân phải bật ngửa. Điều kiện của Chính phủ miền Nam đưa ra là Cộng Sản Bắc Việt phải rút hết 300 ngàn cán binh khỏi miền Nam. Còn điều kiện của Cộng Sản Bắc Việt là đòi Tổng thống Thiệu phải ra đi. Kết cục hai bên đã thỏa thuận bỏ những đòi hỏi trên để đồng ý vào Hiệp định Paris 1973.

Rõ ràng Tổng thống Thiệu đã chấp nhận cho 300 ngàn quân xâm lược ở lại miền Nam để đổi lấy cái ghế Tổng thống của ông, là một điều trái với lập trường "Bốn Không" của ông đã cam kết với quốc dân và với điều 4 hiến pháp. Chiến tranh hiện nay tiếp tục giết hại quân dân ta là tại lòng tham của ông Nguyễn Văn Thiệu đã coi ngôi vị Tổng thống của ông nặng hơn vận mệnh của dân tộc.

Đây là một thứ tham nhũng tệ hại hơn hết vì là tham nhũng trên sự sống còn của dân tộc hay nói đúng hơn là một sự phản bội dân tộc.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời thế nào với Quốc Dân và Quốc Dân phải làm gì đối với ông.

Đó là hai vấn đề phải được đặt ra và phải được giải quyết tức khắc trên căn bản công bằng:

- Những gì của Quân đội phải trả lại cho Quân đội.

- Những gì của Quốc gia phải trả lại cho Quốc gia.

- Những gì của Dân tộc phải trả lại cho Dân tộc.

 

Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974

Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình

 

Trích từ  "Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa"

của Nguyễn Khắc Ngữ, Montréal, Canada, 1979 trang 417 đến 422.



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.