*** TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ *** CÔNG KHAI THẢO LUẬN, ÂM THẦM HÀNH ĐỘNG *** Đã đến lúc tòan dân Việt hãy muôn lòng như một quyết chí đấu tranh cho QUYỀN DẠ DÀY, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN TỰ QUYẾT bằng cách ngay lúc này phải GIẢI THỂ TẬP ĐÒAN VIỆT GIAN CỘNG SẢN BUÔN DÂN BÁN NƯỚC!!!

2011/05/04

GẠO ĐEN

GẠO ĐEN
 

Loại gạo cấm của riêng hoàng đế Trung Hoa hóa ra là một loại "siêu thực phẩm".

Trước đây, hoàng cung Trung Hoa coi một thứ gạo màu đen hoặc tím sẫm là "gạo cấm" chỉ có vua mới được ăn và ban lệnh cấm dân thường sử dụng loại gạo này làm thực phẩm hàng ngày. Cho tới tận thời điểm hiện tại, gạo đen vẫn còn tương đối hiếm ở phương Tây.

Một nghiên cứu được thực nghiệm trong thế kỉ 21 đã chứng minh rằng gạo đen (hay còn gọi là gạo nếp cẩm) là một "siêu thực phẩm", hay ít nhất, nếu xét ở góc độ dinh dưỡng, thứ gạo này là kho thực phẩm quý báu. Thực tế, một thìa gạo đen chứa một lượng đáng kể vitamin E, sắt, chất xơ và chất chống oxy hóa.

Chính vì vậy, quên đi cây việt quất và quả mâm xôi, gạo đen mới chính là siêu thực phẩm cho thế giới.

Ðây là kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Zhimin Xu thuộc đại học bang Louisana, Mỹ. Báo Telegraph dẫn lời ông Xu và cả nhóm nghiên cứu, một muỗng đầy gạo đen chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe hơn bất cứ siêu thực phẩm nào, bởi một muỗng gạo đen chứa nhiều chất chống oxy hóa anthocyanin hơn một muỗng quả việt quất.

Anthocyanin tạo ra màu đen sẫm cho nhiều loại rau, quả như việt quất, ớt...Các nhà nghiên cứu cho rằng chất chống oxi hóa màu đen này giúp bảo vệ thành mạch và ngăn ngừa sự phá hủy ADN - yếu tố dẫn đến ung thư. Chất anthocyanins được cho là có nhiều trong các loại thực phẩm màu tím, đỏ và màu xanh như là trái dâu, nho và cà tím.

"Nếu những loại quả mong khác được chúng ta sử dụng hàng ngày nhằm bổ trợ và tăng cường sức khỏe thì tại sao ta không chuyển sang dùng gạo đen, thứ thực phẩm có ít đường hơn những thứ trái quả đó?" - tiến sĩ Xu phát biểu trên các phương tiện truyền thông.

Trong khi gạo trắng được phát hiện là nguyên nhân gây bệnh Beri beri (bệnh tê phù, do vitamin B1 của gạo bị loại bỏ trong quá trình sản xuất), gạo nâu (Việt Nam gọi là gạo lứt) tốt nhưng hơi khó ăn, thì gạo đen được xem như loại thực phẩm dễ sử dụng và tốt nhất.

Ngoài gạo đen, khoa học hiện đại đã chứng minh rằng những loại ngũ cốc qua ít công đoạn chế biến như gạo lật cũng có lợi cho sức khỏe hơn các loại được chế biến kỹ lưỡng. Gạo lứt (tên khoa học là Gạo nâu) là gạo chỉ trải qua quá trình xay tróc vỏ trấu mà không tác động nhiều đến phôi và lớp cám của gạo.

Gạo lứt có thể có màu nâu, màu hung đỏ hoặc tía. Hạt gạo lứt nếu tiếp tục trải qua quá trình xát trắng để loại bỏ phôi và lớp cám sẽ trở thành gạo trắng mà chúng ta vẫn thường ăn. Tuy nhiên, hạt gạo lứt xấu xí lại rất giàu chất dinh dưỡng bởi các chất dinh dưỡng quý của gạo lại nằm chủ yếu trong lớp cám và phôi. Quá trình xát trắng gạo đã loại bỏ phần lớn các chất này.

Ðược biết gạo đen thậm chí còn tốt hơn cả gạo lứt bởi chúng còn có đặc tính kháng viêm. Trong các nghiên cứu gần đây, công bố trên Tạp chí của Hội Hóa học Mỹ về Nông nghiệp và Thực phẩm Hoá học, người ta xem xét các tác động của cám gạo đen lên chuột thí nghiệm.

Nghiên cứu được tiến hành tại các trường đại học ở Hàn Quốc. Các nhà nghiên cứu thấy rằng những con chuột được cho ăn theo chế độ ăn của chúng, bổ sung với 10 phần trăm cám gạo đen đã tránh được đáng kể những nguyên nhân bị viêm da tai so với những con chuột không được ăn cám gạo màu đen hoặc chỉ được ăn cám gạo màu nâu.

Chứng viêm kéo dài có thể liên quan tới một loạt các bệnh như dị ứng, bệnh tim, ung thư và các bệnh truyền nhiễm khác. Các nhà nghiên cứu lạc quan rằng trong tương lai, thực phẩm có chứa cám gạo màu đen có thể được sử dụng để điều trị hoặc ngăn chặn các tác nhân gây ra chứng viêm.

Món mì trộn được chế biến từ gạo đen.

Gạo đen có màu đen sẫm, khi nấu lên sẽ chuyển thành màu tím sẫm. Nó chứa nhiều khoáng chất và một vài loại amino axit. Hiện tại, gạo đen chủ yếu được sử dụng tại châu Á với chức năng trong trí đồ ăn, hoặc dùng trong các món sushi, mì ống và bánh puddings. Với người tiêu dùng, tốt nhất nên mua gạo đen ở trạng thái nguyên hạt.


http://bit.ly/mOUZDE



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


30-4: LÒNG DÂN KHÔNG THỐNG NHẤT

30-4:  LÒNG DÂN KHÔNG THỐNG NHẤT

(Trình bày ngày Thứ Bảy 30-4-2011 tại Montreal.)

Trần Gia Phụng


Ngày 30-4-1975, Bắc Việt Nam thành công trong việc đánh chiếm Nam Việt Nam và tự hào là đã thống nhất đất nước.  Đúng là ngày 30-4-1975, chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ranh giới sông Bến Hải bị xóa bỏ, đất nước quy về một mối dưới chế độ cộng sản, nhưng cho đến nay, 36  năm sau ngày 30-4-1975, thực tế cho thấy rõ ràng Cộng sản Việt Nam (CSVN) chỉ thống nhất lãnh thổ Việt Nam, chứ không thống nhất được tinh thần và tình cảm của dân chúng Việt Nam, nghĩa là không thống nhất lòng dân Việt Nam. 

 

1.-   TỰ SÁT CHỐNG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Đầu tiên, khi CS chiếm được miền Nam, khá nhiều người đã tự sát.  Báo chí thường ca tụng các vị sĩ quan và tướng lãnh đã tuẫn tiết.  Tuy nhiên, còn biết bao nhiêu người vô danh khác nữa cũng đã tự sát trước và trong ngày 30-4-1975, nhất là tại vùng II và Vùng I Chiến thuật, nơi thất thủ sớm nhất.  Những người tự sát chứng tỏ hai điều:  1) Thứ nhất, trung thành với chế độ cũ. 2)  Thứ hai, không chấp nhận chế độ mới.   Việt Nam nhiều lần thay đổi chế độ, nhưng lần nầy là lần đầu tiên trong lịch sử, rất nhiều người thà chết chứ không chấp nhận sống dưới chế độ mới.  Một chế độ mới lên cầm quyền mà người ta không muốn sống dưới chế độ đó, đến nỗi phải tự sát, chứng tỏ rằng ngay từ đầu chế độ đó không được lòng dân, đó làm thảm họa cộng sản mà nhà văn Phan Khôi gọi là "cây cứt lợn" hay "cây chó đẻ". (Phan Khôi, "Cây cộng sản" (bút ký) trong tập Nắng chiều, Hoàng Văn Chí trích dẫn, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, 1959, tr. 91.)

 

2.-  PHONG TRÀO DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN

Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh xảy ra.  Người ta bỏ chạy vì sợ lửa đạn.  Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn súng đạn.

Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt đã di tản ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác.  (Nguồn: UNHCR, The State of the World's Refugees - Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.)  Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ.  Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng:  "Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước." (Trích nguyên văn:  http://ngoclinhvugia.wordpress.com/).  Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài "Nối vòng tay lớn", nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội "phản quốc".

Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên.  Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ.  Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.  Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước.  Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi. 

Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi.  Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được.  Nghệ sĩ TrầnVăn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: "Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi." 

 

3.-   PHONG TRÀO ĐỐI KHÁNG TRONG NƯỚC

Di tản hay vượt biên là bất tín nhiệm nhà cầm quyền trong nước, nhưng quan trọng hơn những người ở lại và cả những người xuất thân từ chế độ CS, được đào tạo từ trường lớp CS, cũng đối kháng với CS.  Có thể chia thành nhiều nhóm đối kháng.

Nhóm thứ nhất xin tạm gọi là nhóm "Cộng hòa" vì những người đứng lên đối kháng là những người thời chế độ Cộng hòa còn lại.  Cuộc nổi dậy bộc phát ngay từ năm 1975 và những người nổi lên chống đối bị ghép vào thành phần phản động.  Trong số những cuộc nổi dậy trên toàn quốc, nổi tiếng nhất có thể là hai vụ ở Huế và ở Sài Gòn. 

Vào năm 1976, một tổ chức chống cộng gồm nhiều thành phần khác nhau được thành lập tại Huế.  Sau khi bị phát hiện, tám người bị án tử hình, trong đó có giáo sư  Nguyễn Nhuận ở trường Đại học Khoa hoa Huế và giáo sư Đặng Ngọc Quờn ở trường Đại học Văn khoa Huế.  Tại Sài Gòn, cũng vào năm 1976, tại nhà thờ Vinh Sơn, trên đường Trần Quốc Toản (tên đường trước 1975), Nguyễn Việt Hưng (sĩ quan chế độ cũ) cùng linh mục Nguyễn Hữu Nghị đứng ra tổ chức lực lượng võ trang phục quốc, nhưng bị phát hiện ngày 12-2-1976.  Những người cầm đầu đều bị tử hình.

Ngoài hai cuộc nổi dậy quan trọng trên đây, khắp các địa phương đều có nhiều nhóm hoạt động chống đối ở các tỉnh.  Tại Đà Nẵng, hai giáo sư trường Kỹ Thuật là NguyễnVăn Bảy, Trần Ngọc Thành bị tử hình ở Hoà Khánh.  Trước khi bị bắn, hai ông đều hô lớn "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm".  Ở Tam Kỳ (Quảng nam) có nhóm thanh niên và học sinh Quốc Dân Đảng.  Ở miền Tây Nam phần, rải rác các nhóm thanh niên Phật Giáo Hòa Hảo...  Cộng sản thẳng tay đàn áp tất cả những cuộc đối kháng.

Nhóm thứ hai xin tạm gọi là "nhóm tôn giáo":  Năm 1977, tại Huế, linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt giam vì đã phổ biến hai bài tham luận của giám mục Nguyễn Kim Điền, lên án nhà cầm quyền CS chủ trương tiêu diệt tôn giáo.  Linh mục Lý bị bắt giam và bị CS cấm làm linh mục.  Từ đó, linh mục Lý không ngừng tranh đấu cho dân chủ Việt Nam.  Phía Phật giáo, thượng tọa (nay là hòa thượng) Thích Quảng Độ bị nhà cầm quyền bắt giam cũng từ năm 1977.  Thượng tọa liên tục tranh đấu bất bạo động, và bị bắt giam hay quản thúc nhiều lần.  Ngoài hai tu sĩ trên đây, còn có nhiều tu sĩ của Công giáo, Phật giáo, đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo đã hoạt động cho đến nay, lên tiếng kêu gọi tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho dân tộc, nhưng đều bị đàn áp, cô lập bằng nhiều cách khác nhau. 

Chính sách tôn giáo của CSVN là: Đối với các tôn giáo có ảnh hưởng quốc tế như Phật giáo, Ky-Tô giáo thì CSVN cô lập các tu sĩ chứ không gây ra những vụ án tử đạo vì sợ dư luận thế giới lên án.  Đối với các tôn giáo địa phương như Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, CSVN thẳng tay đàn áp, giam cầm, ngược đãi, thủ tiêu.  Tuy nhiên, hiện nay tu sĩ các tôn giáo vẫn tiếp tục hoạt động và liên kết với các nhóm khác để tranh đấu đòi hỏi tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho đất nước.

Nhóm thứ ba xin tạm gọi là "cán bộ CS hưu trí", bắt đầu từ Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ do Nguyễn Hộ thành lập năm 1986.  Nguyễn Hộ là một cán bộ cộng sản miền Nam.  Sau năm 1975, ông làm phó chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam, thư ký Liên hiệp Công đoàn TpHCM (tức Sài Gòn cũ), chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TpHCM.  Tháng 9-1988, Nguyễn Hộ ra mắt báo Truyền Thống Kháng Chiến, chỉ trích nhà cầm quyền CS nên bị đình bản.  Năm 1989, CLB Những Người Kháng Chiến Cũ bị giải tán.  Năm 1991 Nguyễn Hộ trả thẻ đảng viên, dầu lúc đó ông đã vào đảng 53 năm.  Lúc đầu, ông bị quản thúc tại gia, rồi bị bắt năm 1994.  Nguyễn Hộ chết già năm 2009.  Trong hồi ký của mình, Nguyễn Hộ tự thú nhận: "Chúng tôi đã chọn sai lý tưởng cộng sản chủ nghĩa." (BBC Vietnamese, 3-7-2009.)

Sau Nguyễn Hộ, nhiều cán bộ mạnh dạn lên tiếng chỉ tích chủ trương của nhà cầm quyền CS, kể cả những tướng lãnh, đảng viên cao cấp (Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Trần Anh Kim…).  Nhà cầm quyền cộng sản cho rằng những người chỉ trích chỉ là những đảng viên hưu trí, mất quyền lợi nên mới phản đối nhà cầm quyền CS mà thôi. 

Nhóm thứ tư xin tạm gọi là nhóm "truyền thông", phản đối bằng báo chí, internet.  Có thể nói cuộc phản đối nầy rất sôi nổi, do chính những người sinh ra, lớn lên và được đào tạo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả những người xuất thân từ gia đình cán bộ cao cấp của chế độ.  Đó là một loạt những luật sư, kỹ sư, mục sư, giáo viên, phóng viên, nhà báo, mà ngày nay rất nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới.  Đó là Lê Thị Công Nhân, Đỗ Nam Hải, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Cù Huy Hà Vũ, Trần Khải Thanh Thủy, Phan Thanh Nghiên, Nguyễn Tấn Hoành, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Trí Tuệ, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, Vũ Hùng...(Danh sách nầy còn dài...)

Những nhân vật trên đây sinh ra, lớn lên và học hành trong lòng chế độ cộng sản.  Vì vậy không thể kết án những người nầy là tàn dư "Mỹ ngụy", cũng không thể quy tội những người nầy là "tay sai ngoại bang", hay là những người hưu trí bất mãn.  Họ là những ngưòi trẻ, có khả năng, có địa vị, danh vọng và giàu có, nhưng họ đã hy sinh tất cả, can đảm đứng lên tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ, công bình xã hội cho toàn thể dân tộc.  CSVN liền quy chụp họ là "đánh phá cách mạng, âm mưu, lật đổ chính quyền". 

Những người tay không, không súng không đạn, chỉ bằng suy nghĩ phổ biến qua phương tiện truyền thông mà làm sao "âm mưu lật đổ chính quyền"?  Họ chỉ là những người trình bày quan điểm của mình một cách bất bạo động nhằm xây dựng chế độ mà vẫn bị trù dập, chứng tỏ chế độ CS không chấp nhận bất đồng chính kiến, nghĩa là CSVN không cần đến ý dân, lòng dân. 

Nhóm thứ năm xin tạm gọi là nhóm "nhân dân":  Cộng sản  luôn luôn tự hào là được hậu thuẫn của nhân dân và tâng bốc nhân dân là" anh hùng".  Trong thực tế, "nhân dân anh hùng" đứng hạng thứ tư tức hạng chót trong xã hội CS . "Tôn Đản là chợ vua quan, / Vân Hồ là chợ những gian nịnh thần./ Đồng Xuân là chợ thương nhân,/ Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng." Cộng sản lợi dụng khai thác nhân dân tối đa, nhưng CS cũng đàn áp nhân dân tối đa.  Bị đàn áp, nhân dân thấp cổ bé miệng không biết làm sao, chỉ còn có cách phản kháng thụ động bằng những câu vè, tục ngữ, ca dao, những câu chuyện tiếu lâm, tạo thành nền văn chương truyền khẩu xã hội chủ nghĩa rất phong phú. 

Tục ngữ, ca dao, chuyện tiếu lầm bàng bạc trong dân chúng quá nhiều, xin khỏi cần ghi lại; chỉ xin lưu ý rằng ngày trước đề tài văn chương truyền khẩu có tính cách xã hội nói chung.  Riêng đề tài văn chương truyền khẩu thời CS, đặc biệt chỉ tập trung vào vấn đề chính trị, chỉ trích giới lãnh đạo CS mà thôi.  Điều nầy cho thấy dầu CS luôn luôn khoe khoang rằng chế độ CS là chế độ của nhân dân, nhưng thực sự CS không bao giờ được lòng dân và luôn bị nhân dân oán ghét, đả kích. 

 

4.-   VÌ SAO ĐẢNG CSVN KHÔNG THỐNG NHẤT ĐƯỢC LÒNG DÂN?

Như thế, chế độ CS bị chống đối từ mọi phía, từ những người ở ngoài nước đến những người trong nước, từ những người bị chụp mũ "Mỹ ngụy", đến những cán bộ CS và cả những thanh niên, trí thức do CS đào tạo.  Sự chống đối của những người do chính chế độ CS đào tạo, hay những người sống trong lòng chế độ CS cho thấy rằng sau 36 năm cầm quyền, đảng CSVN vẫn không thu phục được nhân tâm, vẫn không thống nhất được lòng dân.  Câu hỏi cần được đặt ra là vì sao CSVN lâm vào tình trạng nầy?

Đảng CSVN không thống nhất được lòng dân vì các lý do sau đây:

 

Chủ nghĩa CS vào Việt Nam là một chủ nghĩa không tưởng.  Ngày nay, các nước Âu Châu đã loại bỏ và lên án chủ nghĩa CS.  Trong khi đó, tại Việt Nam ngày nay, triết học CS vẫn còn là môn học bắt buộc cho học sinh và sinh viên Việt khi thi ra trưòng.

Chế độ CS chủ trương độc tài toàn trị.  Từ khi chiếm quyền lực năm 1945, Hồ Chí Minh đưa ra chủ trương độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Editions du Seuil, 1952, p. 143.)  Cho đến năm 1992, Điều 4 hiến pháp quy định rằng "đảng Cộng Sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội."  Đất nước Việt Nam là của chung do tổ tiên để lại cho toàn dân, tại sao đảng CSVN lại được quyền đứng trên tất cả, để lãnh đạo đất nước, không chấp nhận bất đồng chính kiến, đa nguyên, đa đảng?  Trào lưu trên thế giới ngày nay là dân chủ đa nguyên.  Chủ trương độc quyền cai trị đất nước của CSVN đã quá lỗi thời, và bị dân chúng chán ghét.

Từ năm 1975, chính sách kinh tế chỉ huy của CSVN hoàn toàn thất bại.   Cộng sản lo ngại, quay lại nền kinh tế tự do mà CS gọi là kinh tế thị trường, nhưng vẫn do nhà nước điều khiển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cởi trói phần nào cho dân chúng làm ăn, nhưng chỉ có cán bộ CS và một thiểu số ở thành thị được hưởng lợi, trong khi đại đa số dân nông thôn vẫn nghèo khổ.  Định hướng xã hội chủ nghĩa là gì nếu không phải để CSVN tiếp tục chỉ huy kinh tế?

Cộng sản cai trị tùy tiện theo nghị quyết của đảng CS, tức cai trị theo ý đảng, chứ không theo pháp luật, không có tính cách pháp trị.  Nghị quyết của đảng luôn luôn đứng trên luật pháp.  Cách cai trị tùy tiện gây nhiều phiền hà và khó khăn cho người dân trong cuộc sống.  Luật quy định một đàng, nghị quyết đảng đi một nẻo, những kẻ thi hành lại làm cách khác. 

Nhà nước CS tham nhũng từ trên xuống dưới.  Trước đây, dưới chế độ Cộng hòa, nạn tham những cũng xảy ra, nhưng ở quy mô nhỏ cả về người tham những và cách tham nhũng, và nếu bị phát giác thì sẽ bị luật pháp trừng trị.  Đàng nầy, sau năm 1975 chế độ CS tham nhũng từ "vi mô" đến "vĩ mô", bất cứ chức quyền nào cũng tham nhũng, công khai, trắng trợn và không bị luật pháp chế tài.

Chế độ CS sai lầm lớn lao trong chính sách ngoại giao, lệ thuộc nặng nề đảng CS Trung Quốc. Cộng sản Việt Nam là nhà cầm quyền đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Việt Nam làm mất đất đai, mất ải Nam Quan, mất một diện tích mặt biển lớn lao vào tay Trung Quốc.  Việt Nam thời Pháp thuộc cũng không bị mất một tấc đất nào cho Trung Quốc.

 

KẾT LUẬN

Tóm lại, tuy CSVN cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, thống nhất lãnh thổ, nhưng rõ ràng CSVN không thống nhất được lòng dân.  Đảng CSVN chẳng những độc tài đảng trị toàn trị mà còn phạm nhiều sai lầm quan trọng, nhất là  tham nhũng tràn lan, nên cho đến nay, sau 36 năm cai trị độc tài, CSVN cũng không thu phược được lòng dân. 

Trong các thập kỷ qua, CSVN tồn tại bằng bạo lực và áp bức.  Bạo lực và áp bức không mở cửa được lòng dân.  Có người đã viết: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh".  Vì vậy khi nào Việt Nam còn nạn CS độc tài đảng trị toàn trị, thì chắc chắn dân chúng Việt Nam còn tranh đấu đối kháng.  Nếu CSVN tiếp tục đàn áp để tồn tại, bạo lực không thể mở được lòng người, mà bạo lực chỉ tạo thêm đối kháng. 

Do đó, chỉ còn hai con đường là:

1) CSVN phải tự mình làm một cuộc cách mạng bản thân, từ bỏ nạn độc tài đảng trị, xây dựng một chế độ dân chủ tự do, đa nguyên, đa đảng để thu phục nhân tâm.  Điều nầy xem ra khó thực hiện đối với đảng CSVN.

2) Vậy chỉ còn cách khác là một lúc nào đó, toàn dân đoàn kết nổi dậy chống độc tài đảng trị, tự mình giành lấy quyền tự do dân chủ. 

Điều nầy cũng khó khăn không kém, nhưng đường không đi không đến.  Phải bắt đầu mới có kết thúc.  Lịch sử luôn luôn tiếp tục tiến tới.  Trước sau gì cách mạng cũng sẽ bùng nổ ở Việt Nam.  Chắc chắn sẽ có ngày đó.

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Montreal, 30-4-2011)

http://bit.ly/m9eaRz


Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


OSAMA BIN LADEN LÀ AI ?

OSAMA BIN LADEN LÀ AI ?

BS Hoàng Độ (*)

(*) Bài này được viết vào tháng 11 năm 2001 ngay sau khi vụ khủng bố tại Hoa kỳ

Kính gửi đến quý đc bài "Osama Bin Laden Là Ai?" do tôi viết (ký tên Hoàng Độ) tháng 11 năm 2001 sau vụ khủng bố tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2011 để quý đc làm tài liệu tham khảo và tùy nghi xử dụng hoặc phổ biến nhân dịp trùm khủng bố Bi Laden vừa bị hạ sát ngày 1 tháng 5, 2011.

Có thể có những khám phá mới về trùm khủng bố này, nhưng tôi vẫn giữ nguyên bài viết để quý đc nhận định.


Trân trọng

Tran Thang

PO BOX 260578, Tampa, FL 33685-0578

Tel: 407-234-3596

Fx: 813-442-7046


Đối với cơ quan tình báo Hoa Kỳ, Osama Bin Laden là một kẻ bị tình nghi dính líu đến nhiều vụ khủng bố tấn công các cơ sở của Hoa Kỳ trên thế giới, đặc biệt là vụ khủng bố tại New York và Hoa Thịnh Đốn ngày 11 tháng 9 năm 2001, làm thiệt mạng trên 5000 nguời thường dân vô tội và thiệt hại tài sản hàng tỉ mỹ kim . Đối với một số thanh niên Hồi Giáo, ông ta là một anh hùng.

Vậy Osama Bin Laden là ai ? Tại sao ông ta trở thành một kẻ nguy hiểm đồng thời cũng là thần tượng của tuổi trẻ Hồi Giáo ?

Trong bài dưới đây, chúng tôi thuật lại tiều sử và "sự nghiệp" của Osama bin Laden và tổ chức khủng bố al Qaeda của ông ta, những gì người ta hiện đã biết. Dĩ nhiên còn nhiều bí ẩn về con người kỳ quái và đầy nguy hiểm này chúng tôi sẽ bổ túc sau.

Trân trọng - HĐ

***

Osama Bin Laden (còn được viết là Usama bin Ladin) sinh năm 1957 tại Riyadh, thuộc Á Rập Saudi trong một gia đình tỷ phú gốc Yemen. Cha Osama làm nghề thầu khoán xây cất có ảnh hưởng lớn đối với nhà vua của nước này.


MỘT GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU

Cha của Osama bin Laden là Ông Mohammed Awad bin Laden, một người rất cần mẫn, siêng năng, nhẫn nhục, khiêm tốn và đại lượng, đã có nhiều công lao giúp nhà vua Á Rập xây dựng sự nghiệp. Ông này di cư từ Yemen đến Saudi lập nghiệp từ năm 1930 với hai bàn tay trắng. Khởi đầu, ông chỉ là một công nhân bốc dỡ nghèo khổ, nhưng với lòng quả cảm và ý chí kiên cường, cuối cùng ông sở hữu một công ty xây cất lớn nhất ở Á Rập Saudi. Ông đã giúp hoàng gia Saudi thoát khỏi những thời kỳ khó khăn nhất, vì thế hoàng gia Saudi rất kính nể ông. Ông là một người sùng đạo Hồi, có công lớn giúp Hồi Giáo phát triển tại xứ Á rập này nên ông được những nguời theo đạo Hồi kính trọng. Ông cũng có nhiều cảm tình với nuớc Hoa Kỳ.

Trong gia đình, ông dạy dỗ con cái rất cẩn thận, bắt chúng giữ gìn kỷ luật, huấn luyện chúng thành những con người gương mẫu có trách nhiệm trong xã hội. Ông có khoảng 13 người vợ ở rải rác kháp nơi tại Trung Đông. Ông mất đi trong một tai nạn vào năm 1968 để lại một gia tài lớn cho các con trai của ông. Phần lớn gia tài nằm trong các công ty xây cất mà ông Mohammed Awad bin Laden đã xây dựng từ lâu. Theo ước lượng của CIA, riêng phần gia tài của Osama hiện nay vào khoảng 300 triệu Mỹ Kim.

Hiện nay tại thành phố Boston tiểu bang Massachussett Hoa Kỳ, rất nhiều con cháu giòng họ Bin Laden sinh sống vương giả. Họ đã tặng cho Đại Học Harvard 2 triệu mỹ kim dùng cho nghiên cứu Hồi Giáo. Những người này không muốn liên hệ đến Osama bin Laden, vì chủ trương bạo động, ra ngoài khuôn khổ của Hồi Giáo của anh ta.


THUỞ THIẾU THỜI

Osama Bin Laden là đứa con thứ mười bảy trong một gia đình có 54 anh chị em. Cha qua đời khi mới 13 tuổi, cưới vợ năm 17 tuổi, Osama đã sớm trưởng thành, tốt nghiệp đại học King Abdul Aziz tại Jiddah, Saudi năm 1979 (môn Hành Chánh). Do uy thế của người cha đối với Hồi Giáo, Osama có được sự giao du rộng rãi với các chức sắc Hồi Giáo kể từ lúc nhỏ. Trong lúc đi học, Osama theo phong trào canh tân Hồi Giáo "Muslim, Brotherhood" (xem bài Hồi Giáo).

Thuở niên thiếu của Osama không có gì đặc biệt ngoài bản tính không thích đụng chạm, hoặc tranh chấp, ít xuất hiện ngoài công chúng. Anh ta có hai người thầy nổi tiếng: một người tên Abdullah Azzam, sau này trở thành một trong những lãnh tụ nổi tiếng của Afghanistan. Người kia là một nhà văn kiêm triết gia Hồi Giáo: ông Mohammed Quttub.

Theo tác giả Bodansky trong cuốn "Bin Laden: The Man Who Declared War On America" xuất bản năm 1999, Osama có 4 vợ và 15 con cư ngụ trong các hang động ở miền Đông Afghanistan.


THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG LIÊN XÔ

Năm 1979, Liên Xô xua quân chiếm Afghanistan, một biến cố làm thay đổi cuộc đời của Osama. Chỉ hai tuần lễ sau, anh ta đến Pakistan tìm cách giúp đỡ người dân Afghanistan, thăm viếng các trại tỵ nạn dọc biên giới Afghanistan-Pakistan, nơi đây Osama gặp được nhiều vị chỉ huy lực lượng kháng chiến chống Liên Xô (Mujahedeen) mà sau này trở thành những nhân vật quan trọng của Afghanistan như Rabbani, Sayyaf...

Trở về Saudi, anh vận động gây quỹ giúp kháng chiến Afghanistan với kết quả khả quan: một số tiền lớn và vật dụng được chuyển đến Pakistan giúp Mujahedeen. Kể từ đó. anh thường xuyên đi về giữa Pakistan và Á Rập Saudi.

Năm 1982, anh xâm nhập nội địa Afghanistan mang theo máy móc, dụng cụ, phẩm vật để trực tiếp giúp kháng chiến. Sự có mặt của anh nâng cao tinh thần kháng chiến quân.

Năm 1984, Osama thành lập Nhà Khách (Guest House) tại thành phố Peshawar thuộc Pakistan, nơi bí mật đón tiếp các tình nguyện quân đến từ khắp thế giới, là trạm liên lạc với lực lượng kháng chiến tại Afghanistan.

Theo các nguồn tin thì Osama được cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA giúp huấn luyện, thành lập tổ chức MAK (viết tắt của Maktab al-Khidimat) chuyên tuyển mộ quân tình nguyện và vận động tiếp viện từ khắp thế giới để chống Liên Xô. Nhiều nước Hồi Giáo hưởng ứng lời kêu gọi này để cùng với "người anh em Muslim Afghanistan" chiến đấu chống một chủ nghĩa thù nghịch với tôn giáo Islam là Cộng sản.

Năm 1986, Osama quyết định thành lập 2 căn cứ huấn luyện nằm sâu trong nội địa Afghanistan. Chỉ trong vòng 2 năm, đã có trên 6 căn cứ được thiết lập. Nhà Khách và trại huấn luyện của Osama đã quy tụ nhiều quân tình nguyện từ các nước Á Rập, trong số đó phải kể đến nhiều nhà quân sự giàu kinh nghiệm từ Syria, Ai cập... Sau đó, Osama thành lập lực lượng riêng do chính Osama chỉ huy và lãnh đạo. Trước đây, Osama chỉ tuyển mộ quân, huấn luyện rồi chuyển đến các lực lượng kháng chiến. Quân của Osama đụng độ vài lần với đội quân mà hầu hết là người Á Rập thuộc quyền chỉ huy của Liên Xô.

Năm 1988, Osama thành lập tổ chức "al-Qaeda" (tiếng Á Rập có nghĩa là "căn cứ"), bề ngoài mục đích lập hồ sơ theo dõi tình trạng các tình nguyện quân từ các nước khác. Gia đình họ rất lo âu cho số phận của họ mà Osama không biết phải giải quyết như thế nào. Nhưng mục đích quan trọng khác là yểm trợ lực lượng kháng chiến chống Liên Xô.

Sau khi Liên Xô rút quân, tổ chức này vẫn tiếp tục phát triển và trở thành một tổ chức có mục đích hỗ trợ thành hình các nước Hồi Giáo. Nó đã trở thành tổ chức khủng bố sau khi Hoa Kỳ tấn công Iraq và đóng quân tại Á Rập Sau di.


TRỞ VỀ SAUDI

Năm 1989, khi Liên Xô bắt đầu rút quân, Bin Laden trở về quê nhà như một anh hùng, nhưng sau này vì dự tính thành lập phong trào "thánh chiến" (Jihad) tại vùng Nam Yemen nên anh ta trở thành đối lập với nhà vua. Anh được phép xuất ngoại. Trong thời gian đó, Osama cũng đưa ra cảnh báo về một sự xâm chiếm gần kề của Saddam Hussen làm cho nhà vua tức giận vì đang có sự giao hảo tốt đẹp giữa Saudi và Iraq. Vài ngày trước khi Saddam xâm chiếm Kuwait Osama đã gửi thơ riêng đến hoàng gia tiên đoán về sự kiện này.

Ngay sau khi Saddam xâm lăng Kuwait, Osama lại gửi thư cho Hoàng Gia đề nghị kế hoạch bảo vệ Á Rập Saudi, đồng thời ngỏ ý tình nguyện huy động những người cựu kháng chiến Mujahedeen bảo vệ hoàng gia, nhưng nhà vua không mấy để ý.

Một biến cố khác làm thay đổi cuộc đời Osama lần thứ hai: Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến và đóng quân tại Saudi. Osama tức giận, vận động những nhà lãnh đạo Hồi Giáo ban hành giáo lệnh ("fatwah") thúc giục người Hồi Giáo cần được huấn luyện sẵn sàng cho một cuộc thánh chiến (jihad). Nhờ giáo lệnh này Osama tuyển mộ được trên 4000 lính tình nguyện đến thụ huấn tại các trại nằm trong Afghanistan. Trước những hoạt động này, chính phủ Saudia coi Osama là thành phần nguy hiểm nên ra lệnh kiểm soát chặt chẽ việc di chuyển của anh ta.


SỐNG LƯU VONG: AFGHANISTAN – SUDAN - AFGHANISTAN

Mặc dù bị chính phủ Saudi kiềm chế, tháng 4 năm 1991, nhờ sự giúp đỡ của một người anh em đang làm việc với chính quyền hoàng gia, Osama đã rời Saudi đến Afghanistan, nơi đây Osama chứng kiến cảnh quân đội Liên Xô hoàn tất cuộc rút quân, đồng thời lại đau lòng trước cảnh những người anh em Hồi Giáo trong Mujahedeen tranh giành ảnh hưởng, chém giết lẫn nhau. Cùng lúc đó, chính quyền Saudi ra lệnh bắt cóc (hoặc ám sát Osama nếu cần), nhưng anh ta thoát nạn nhờ tin tức tiết lộ cho anh ta biết.

Cuối 1991, Osama bí mật rời Afghanistan sang cư ngụ tại Sudan, một nước theo Hồi Giáo. Chính phủ này cho phép những người Hồi nhập cư mà không cần giấy nhập cảnh, nhờ thế, rất đông thành phần khủng bố đến trú ẩn. Tại đây, Osama hoạt động doanh thương đồng thời bí mật huấn luỵện các nhóm khủng bố. Cuộc đời hoạt động khủng bố của Osama bắt đầu từ đây.

Osama đã bị nghi có dính líu đến những cuộc khủng bố trên thế giới (xem phần "Hoạt Động Khủng Bố" phía dưới).

Năm 1996, do áp lực của quốc tế, chính phủ Sudan trục xuất Bin Laden. Một chuyến phi cơ quân sự chở Osama cùng 150 quân khủng bố và dụng cụ từ Sudan đến Afghanistan, nơi mà lực lượng Taliban đang lớn dần. Nhờ sự giúp đỡ của Osama về tài chánh, huấn luyện, lực lượng Taliban cuối cùng kiểm soát 90 % đất đai và nắm quyền cai trị Afghanistan.

Một chi tiết khá đặc biệt là ông Mullah Mohammad Omar, lãnh tụ Taliban đã lấy con gái của Osama bin Laden.


HOẠT ĐỘNG KHỦNG BỐ

Năm 1992, Bin Laden và những thành viên Al-Qaeda đã có những quyết định nội bộ: (1)

Các nhóm khủng bố khác nhau nên bỏ đi những dị biệt để cùng hợp lực chống kẻ thù chung là Hoa kỳ và đồng minh. (2) Tấn công các lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh đóng tại vùng vịnh, Á Rập Saudi, Yemen, Somalia...

Tháng 12 cùng năm, vụ nổ bom tại các khách sạn ở Aden, Yemen lực lượng Hoa Kỳ trợ giúp nhân đạo trú ngụ trên đường đi Somalia, gây tử thương nhiều du khách. Tình báo Hoa Kỳ sau khi điều tra từ những tên khủng bố bị bắt gốc Yemen cho thấy Bin Laden có liên hệ với cuộc khủng bố này (New York Times 21/8/98).

Cũng theo tình báo Hoa Kỳ, Bin Laden hợp tác với chính phủ Sudan tìm cách chế tạo bom nguyên tử và bom hóa học sử dùng vào việc khủng bố.

Tháng 2 năm 1993, tòa nhà Trung Tâm Mậu Dịch thế giới ở New York bị đặt bom. Đến tháng 3 năm 1994, Ramzi Yousef, một nghi can bị tình nghi đặt bom đã bị bắt tại Pakistan, đã có nhiều liên hệ đến Bin Laden. Chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh truy nã Osama.

Tháng 10 năm 1993, 18 binh sĩ Hoa Kỳ bị giết tại Mogadishu, Somalia trong cuộc hành quân do Liên Hiệp Quốc chỉ huy chống nhà độc tài Mohammed Farah Aidid. Các cơ quan an ninh Hoa Kỳ đã bất đồng ý kiến về việc Bin Laden có liên hệ đến cuộc tấn công tại Somalia này hay không. Sau này, tin tức cho thấy chính Bin Laden đã tài trợ cho 3 trại tại miền Bắc Sudan nhằm huấn luyện khủng bố cho nhiều thành viên của trên 10 nước trên thế giới kể cả Somalia. (New York Times, 8/14/96).

Trước những sự kiện này, chính phủ Saudi chính thức thu hồi quốc tịch của Bin Laden, phong tỏa các trương mục ngân hàng với lý do Osama tài trợ các lực lượng Hồi Giáo cực đoan.

Năm 1995, cũng theo tình báo Hoa Kỳ, Bin Laden tiếp tục tài trợ cho các trại huấn luyện khủng bố tại biên giới Yemen (Washington Post 8/23/98)

Ngoài ra, Cơ quan CIA còn cho biết Bin Laden liên quan đến vụ ám sát hụt Tổng Thống Ai Cập tháng 6, 1995.

Tháng 8/1995, Bin Laden viết thơ cho vua Fah của Á Rập Saudi đề nghị tổ chức du kích đánh đuổi Hoa Kỳ ra khỏi nước này.

Tháng 11/1995, 5 quân nhân Hoa Kỳ và 2 lính Ấn Độ tử thương khi một xe chứa bom đâm vào trung tâm huấn luyện vệ binh tại Ridyah. Bin Laden chối không dính vào vụ này nhưng lại lên tiếng ca ngợi. (Washington Post 8/23/98)

Năm 1996, 4 người Saudi bị kết án vì đặt bom tại Ridyah trước khi bị hành quyết đã thú tội là họ làm theo lệnh của Bin Laden. Tổng thống Clinton ra lệnh CIA phá các mạng lưới khủng bố của Bin Laden với bất cứ giá nào.

Tháng 6/1996 một xe vận tải chở đầy bom đâm vào khu cư trú của quân nhân Hoa Kỳ tại Dhahran, giết 19 binh sĩ. Hoa Kỳ cho biết Bin Laden đã liên hệ dến vụ nổ.


TUYÊN CHIẾN VỚI HOA KỲ

Tháng 8/1996, Osama Bin Laden đưa ra lời kêu gọi "thánh chiến" bằng những hành động khủng bố chống lại phương Tây, nhất là Hoa Kỳ và đồng minh. Lời kêu gọi có đoạn:

"Chúng tôi, với sự trợ giúp của thượng đế, kêu gọi tất cả những người Hồi Giáo tin vào Thượng Đế và muốn được Thượng Đế thưởng công hãy tìm giết người Mỹ, hãy cướp tiền bạc của họ bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào" (Washington Post 8/23/98).


Bin Laden đã nhiều lần công khai thuyên chiến với Hoa Kỳ và hăm dọa sẽ tiếp tục khủng bố nếu Hoa Kỳ không rút khỏi Saudia.

Tháng 7 năm 1998, tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Kenya và Tanzania bị nổ bom làm thiệt mạng hàng trăm người, bị thương trên 4 ngàn người. Mohamed Rahsed Daoud Al 'Owali, một đồng bọn ngồi trên chiếc xe Toyota chở bom, sống sót và bị bắt sau vụ khủng bố đã thú nhận là anh ta được huấn luyện khủng bố từ năm 1996 tại Afghanistan và nhận lệnh của Osama bin Laden.

Trong cuộc phỏng vấn do tạp chí Times thực hiện ngày 22 tháng 12 năm 1998 hỏi anh ta có trách nhiệm gì về các vụ khủng bố, Bin Laden tuyên bố như sau:

"Nhờ ơn Chúa, Mặt Trận Thánh Chiến Quốc Tế Hồi Giáo đã đưa ra một thông điệp rõ ràng kêu gọi các nước Hồi Giáo tổ chức thánh chiến giải phóng thánh địa [ý nói Jerusalem và vùng đất của Palestin: (ghi chú của tác giả)]. Thế giới của Mohammed đã nghe theo tiếng gọi này. Nếu sự thúc giục thánh chiến chống Do Thái và Hoa Kỳ.... được coi là một tội ác, thì hãy để lịch sử quy kết chính tôi là một tội nhân. Nhiệm vụ của chúng tôi là chủ mưu và, nhờ ơn Chúa, chúng tôi đã làm như vậy. Và nhiều người đã nghe theo chúng tôi".

Tháng 12, 1999, một bộ phận của Al Qaeda đã bị bắt tại biên giới Canada Hoa Kỳ trong lúc di chuyển một xe chứa đầy chất nổ dự tính cho nổ phi trường Los Angeles nhân ngày tân niên 2000. Bọn này đã thú nhận được huấn luyện tại các trại ở Afghanistan và được lệnh đi giết người Hoa Kỳ dân sự lẫn quân sự.

Ngày 3 tháng 1, 2000, một toán Al Qaeda dự định tấn công một chiến hạm của Hoa Kỳ bằng ghe chứa đầy chất nổ, nhưng cuộc âm mưu bất thành vì chiếc ghe bị đắm bất ngờ.

Ngày 12 tháng 10 năm 2000, chiến hạm USS Cole bị tấn công bằng một ghe chở đầy chất nổ làm thủng một lỗ lớn bên sườn tàu gây thiệt mạng 17 quân nhân, bị thương 40. Cuộc điều tra cho biết những kẻ thực hiện khủng bố (người Yemen và Saudi) đã được huấn luyện tại các trại của Bin Laden tại Afghanistan. Những người này cũng đã can dự vào cuộc tấn công các tòa dại sứ Mỹ tại Phi Châu trước đây.

Trước khi cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 bùng nổ, nhiều phim video được phổ biến tại Trung Đông và các quốc gia Hồi Giáo trong đó Osama bin Laden kêu gọi người Hồi Giáo hãy mạnh dạn tấn công Hoa Kỳ và Do Thái. Những loại video này cũng từng được phổ biến tương tự trước cuộc tấn công vào đại sứ Mỹ tại Đông Phi.

Sau cuộc khủng bố, đã có thêm nhiều bằng chứng chứng minh Bin Laden đã trực tiếp can dự vào các cuộc khủng bố trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9. Hoa kỳ đã chính thức yêu cầu chính phủ Taliban giao nạp Bin Laden, nhưng Taliban từ chối. Họ cho biết Bin Laden chỉ bị tòa án Hồi Giáo xét xử mà thôi. Ngày 7 tháng 10, Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công vào Afghanistan nhằm triệt hạ nguồn gốc khủng bố do Osama Bin Laden chủ mưu. Cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn.

Ngày 11 tháng 10, năm 2001, tờ Washington Post đưa tin Bin Laden hoàn toàn kiểm soát chính quyền Taliban qua các khoản tài chánh, huấn luyện khủng bố cung cấp cho chính quyền này. Cũng theo Washington Post, bin Laden đã yểm trợ 100 triệu Mỹ Kim quân sự cho lực lượng Taliban trong suốt 5 năm qua. Các khoản tiền này xuất xứ từ các dịch vụ buôn bán phi pháp như buôn lậu ma túy, các dịch vụ kinh tài của các công ty thuộc hệ thống khủng bố al-Qaeda, và do một số quốc gia Hồi Giáo cung cấp, được chuyển qua hệ thống ngân hàng và các phương thức chuyển khoản khác.


TỔ CHỨC AL-QAEDA

Như đã trình bày ở trên, năm 1988, Osama bin Laden thành lập tổ chức "al-Qa'eda" (tiếng Á Rập có nghĩa là "căn cứ"). Lúc đầu mục đích của tổ chức này là giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Liên Xô tại Afghanistan. Sau khi Liên Xô rút quân, tổ chức này vẫn tiếp tục phát triển nhằm hỗ trợ thành lập các chính phủ hoàn toàn Hồi Giáo, nhất là tại vùng Trung Cận Đông. Tổ chức này được Osama bin Laden trực tiếp điều hành. Các tình nguyện quân dược huấn luyện tại một số trại nằm rải rác trong Afghanistan thuộc quyền của Osama bin Laden.

Khi Hoa Kỳ tấn công Iraq, tổ chức này đã chính thức tuyên chiến với Mỹ và đồng minh. Các thành viên của Al Qaeda sẽ tìm giết và cướp tài sản của người Mỹ bất cứ ở đâu (lời kêu gọi thánh chiến).

Thành viên của tổ chức Al Qaeda là những người theo Hồi Giáo cực đoan đến từ nhiều nơi trên thế giới. Họ nghe theo lời kêu gọi của Osama, được cấp phương tiện đến Afghanistan thụ huấn khủng bố. Những người lãnh đạo tổ chức đa số là thành phần cựu kháng chiến Mujahedeen trước đây.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chống tổ chức này, kể cả những quốc gia theo Hồi Giáo. Gần đây, sau khi Osama kêu gọi cuộc "thánh chiến" giữa Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo, hai tôn giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay, Tổng Thư Ký của Tổ chức các nước Hồi Giáo chính thức bác bỏ, cho rằng Osama chỉ hành động cho cá nhân anh ta mà không liên hệ gì đến Hồi Giáo.


Những nhà nghiên cứu về Bin Laden cho biết anh ta chẳng hề dạy giáo lý Hồi Giáo, mà nội dung các bài nói chuyện đều bao gồm:

  • Bài Do Thái, cho rằng đất mà Do Thái đang ở là thánh địa của Palestin.

  • Chống Hoa Kỳ và đồng minh, chống Tây Phương. Kỳ thị tôn giáo.

  • Không phân biệt thường dân hay quân sự. (Osama tuyên bố: "Kẻ thù của chúng tôi là người Mỹ, bao gồm những ai chống chúng tôi và cả những ai đóng thuế".)

  • Đất đai vùng bán đảo Á Rập phải thuộc về Hồi Giáo.

Những bài giảng, bài nói chuyện của anh ta chứa đầy sự giết chóc căm thù, trái ngược với kinh Coran của Hồi Giáo.

***

Nói tóm lại, cuộc đời của Osama bin Laden đã chịu ảnh hưởng bởi suy nghĩ mù quáng, cực đoan, hoang tưởng về một thời đại thống trị của Hồi Giáo như cách đây trên 15 thế kỷ, bất chấp những tiến bộ của thế giới, bất chấp sự thay đổi của loài người, sự đi lên của nền văn minh nhân loại.

Một hoang tưởng nguy hiểm khác là ước mơ làm một lãnh tụ toàn thế giới, dẫn đạo thế giới đi theo con đường suy nghĩ của anh ta, nghĩ rằng anh ta sẽ chỉ huy được toàn thế giới Hồi Giáo bằng cách tạo nên những khích bác tôn giáo, chủng tộc..., Anh cố tình quên đi thế giới ngày nay là thế giới liên lập, tất cả đều thay đổi do sự tác động lẫn nhau, kể cả các tôn giáo.

Ngoài ra, với một mạng lưới khủng bố còn lỏng lẻo, rất nhiều sơ hở, lại được trải rộng trên toàn thế giới muôn hình vạn trạng, với nguồn tài chánh giới hạn, vậy mà anh ta đã dám tuyên chiến với cả một nền văn minh hiện đại của nhân loại.

Số phận của Osama bin Laden và tổ chức Al Qaeda sẽ tùy thuộc vào sự khôn ngoan và quyết tâm của lực lượng đồng minh, tương tự như trong các cuộc thế chiến trước đây, và cuộc chiến tranh lạnh gần đây nhất, cuối cùng kẻ ác vẫn phải đền tội, trả lại sự thanh bình cho loài người văn minh tiến bộ.


BS Hoàng Độ

---------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO


- PBS online, www.pbs.org: Frontline Bin Laden Hunting; Who is Bin Laden (Biography; Chronology)

- Encyclopedia of Britannica 2001 (On line Edition): Taliban – Afghanistan – Islam.

- Stratfor Intelligence Strategy: The Intelligence War, By George Friedman (09/17/01); Air Power and the Taliban (10/18/01); Opposition Leader's Death a Blow to U.S. Strategy (10/26/01)...

- New York Times: Pakistani Intelligence Had Links to Al Quaeda, U.S. Officials Say - Oct. 29, 2001.

- Evidence Presented to the British Parliament, 4th October 2001 (Text of a report from the British government on the evidence against Osama Bin Laden regarding the terrorist attacks on Tuesday, Sept. 11).

- Los Angeles Times: Osama Bin Laden: Profile of a Terrorist.

- Bin Laden: The Man Who Declared War On America (Bodansky, 1999)

- On Trail of The Real Osama bin Laden (Los Angeles Times Sept. 15, 2001)



http://bit.ly/mJygUQ


Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.